Bất giác tính từ kiếp đầu tiên hai người vốn là có ân tình mà trải qua ba kiếp lại trở mặt thành thù, cũng là số phận.

***

Buổi sáng trên núi cao, sương mù vây kín bao phủ quanh. Xuất hiện một chàng thanh niên cao chừng sáu thước nét, khuôn mặt điển trai, tay cầm một cây gậy gỗ vượt băng băng qua rừng. Sau lưng chàng trai đeo một cái gùi nước rất to, gùi nước còn không ngừng có nước sóng sánh tràn ra ngoài.

Chàng trai họ Phùng tên Thiệu, là người trấn Thanh Sơn năm nay độ chừng mười bảy tuổi. Thiệu sức người khỏe mạnh lại cực kỳ tuấn tú nên không ít cô gái trong vùng đều có ý định với chàng. Có điều Thiệu trước nay vẫn luôn vướng bận mẹ già ốm bệnh. Còn cha chàng? Cha chàng đã chết trận nơi biên cương. Chàng lập chí không lập gia thất từ chối nhiều đám làm dạm hỏi mai mối để mong có ngày báo thù giết cha.

Năm Thiệu lên mười, cả trấn Thanh Sơn bị một cơn lũ quét qua, người chết nhiều không sao kể xiết. Người chết vì lũ đã nhiều, người chết vì bệnh dịch càng nhiều hơn. Sau trận đó, người cả trấn chỉ còn thưa thớt. Mẹ và chàng dịp đó từ vùng khác tới đây định cư. Được năm năm nữa thì nghe tin báo tử của cha. Nghe nói hai châu Ô, Lý có quân của người Chăm tấn công, không biết bao nhiêu sĩ tốt bỏ mạng, nhà vua vì vậy mà còn phải bỏ chạy khỏi kinh thành.

Nghe tin dữ cha chết, Thiệu tức giận, muốn đi lính để giết giặc báo thù. Nhưng ngặt vì mẹ chàng liên tục ngăn cản, lại mua cho một mảnh ruộng tốt ở phía Tây trấn để ép chàng trồng trọt. Từ ấy chàng đành phải yên phận. Tuy vậy, Thiệu có tâm tư chưa lập nghiệp phò quốc để báo thù cho cha thì chưa lấy vợ.

Sang năm, Thiệu nghĩ tới trí hướng mới. Chàng đem bán mảnh ruộng mà mẹ mua cho, chuyển hẳn nhà vào trong núi ở muốn học tập ông Khổng Minh bên xứ tàu, dùi mài sách sử để mưu đồ bá nghiệp. Kể từ đó cho tới nay, Thiệu đã ở núi này được chừng một năm. Thi thoảng thì xuống núi thăm mẹ ốm bệnh tuổi già lại gửi tiền nhờ người chăm sóc. Còn mình thì cứ rúc trên núi ở ẩn như đạo sĩ.

Cho đến một hôm, nước trong nhà hết, Thiệu xách một gùi nước đi lên trên núi đem nước về. Khi đem nước về đến nửa chừng núi, chợt chàng nhìn thấy một cây hoa rất đẹp, lá hoa màu trắng vẫn còn là nụ mà mùi hương thơm đã không thể giấu được. Thiệu thích lắm, đem đánh cả bầu hoa mang về nhà để trồng. Ngày ngày chăm sóc cây hoa coi như báu vật.

Linh hồn của yêu tinh

Qua năm sau, quân Chiêm đánh vào kinh thành, vua tướng đều bỏ chạy. Chế Bồng Nga đem quân quét qua cả trấn Thanh Sơn, xông cả lên núi. Quân Chiêm nghe tin trên núi Thanh Sơn có cư sĩ ở nên rất hâm mộ muốn bắt về cho Chế Bồng Nga. Bọn chúng lùng sục trong núi Thanh Sơn rất gấp, có đạo sĩ nào trống cự là chém giết thẳng tay ngay tại chỗ.

Chúng lùng đến nơi Thiệu ẩn cư bèn giải chàng ra giữa sân vườn ép phải lên ngựa. Thiệu không chịu liền bị chúng chém một nhát rụng bay đầu. Máu bắn tung tóe, lớp máu ấy vương vãi vào thân cây hoa trắng vô tình nuôi dưỡng cho thân hoa có linh tính.

Cây hoa tu luyện trăm năm thì thành tinh, thêm trăm năm nữa thì hóa được thành hình người. Vì Yêu tinh hoa lúc trước dính máu của chàng Thiệu, nên đâm ra sau này nó muốn tu luyện thì cũng cần phải có máu người mới nhanh. Nó quyết định xuống núi tìm người giết lấy máu để tu luyện.

Nào ngờ đâu người đầu tiên mà nó gặp phải, lại chính là chàng Thiệu ân nhân kiếp trước đã cưu mang nó, nay chàng đã chuyển kiếp người mới. Yêu tinh biết vậy nên không nỡ xuống tay, chỉ âm thầm đi theo.

Kiếp sau của Phùng Thiệu là chàng Chư Sinh, là một tên mổ lợn chứ danh khắp vùng Thanh Sơn. Tuy nói là làm nghề mổ lợn, nhưng chàng Chư Sinh cũng rất điển trai. Nhưng không hiểu sao chàng Chư Sinh kiếp này đã ngoài ba mươi tuổi mà chưa có vợ con gì cả. Người trong trấn hỏi chuyện ấy thì Chư Sinh chỉ đáp lại rằng: “Tôi thường mơ thấy có ông thần phát hào quang sáng lấp lánh bay ở giữa mây trời, nói với tôi rằng tôi bị phạt không được lấy vợ vì đã vướng phải nghiệt duyên!”

Mọi người trong trấn nghe thấy những lời ấy chỉ cười và nghĩ rằng Chư Sinh nói đùa. Thế nhưng Chư Sinh biết những điều mình nói hoàn toàn là sự thật. Bởi cứ hễ mỗi lần chàng có ý định lấy vợ, là y như rằng có chuyện không hay xảy ra.

Ở gần trấn Thanh Sơn năm ấy, có nàng Đào ở thôn họ Dương rất thích tính Chư Sinh, hai người cũng tâm đầu ý hợp nên tính đến chuyện cưới xin ăn hỏi. Vậy mà chỉ chưa đầy vài tháng trước khi đến ngày cưới, nàng bỗng lăn ra đất chết bất đắc kỳ tử, miệng sùi bọt mép, người nhà định khiêng lên quan đòi khâm niệm thì có tiếng quát như sấm vang giữa trời: “Chồng của người mà ngươi cũng dám tơ tưởng, phạt ngươi chết ba ngày không được chôn!”

Những lời ấy nói xong khiến người nhà sợ hãi lắm, không dám tự ý đem xác nàng đi chôn cất. Có người cố tình thử làm ngược ý ấy xem thì chưa kịp đến gần cái xác đã bị vật ngã lăn lông lốc, đầu đập vào bậc thềm nhà đến bất tỉnh, thế là lại càng không dám làm trái.

Chuyện ấy đến tai Chư Sinh, thế là đám hỏi thứ nhất không thành, năm ấy chàng mười tám tuổi.

Năm Chư Sinh hai mươi hai tuổi, có nàng Vy ở phía Bắc trấn Thanh Sơn nảy sinh tình cảm. Cha nàng cũng là phú hộ điền chủ có tiếng ở trong vùng. Nghe tin nàng chết mê chết mệt chàng Chư Sinh mổ lợn, điền chủ kia liền cho người đến ép Chư Sinh bắt đến tận nhà, lại hò sắm sửa đồ lễ cưới xin. Nhưng những việc ấy điền chủ làm chưa được dăm hôm thì mất, cũng bị sùi bọt mép mà chết tức tưởi. Nàng Vy không có họ hàng, gia sản bị bọn gia nhân manh nha tẩu tán hết sạch, chỉ còn lại mỗi mảnh vườn. Chư Sinh nhân đấy không còn ai quản liền bỏ về. Nàng Vy cuối cùng vì quá túng quẫn nên phải đi vay mượn, còn phải bán cả thân vào ổ chứa để trả nợ.

Sau chuyện ấy Chư Sinh cho rằng, bản thân chàng vốn không thể lấy được vợ. Lại có chuyện người ta vì lấy chàng mà tán gia bại sản, thân xác tha hương thì càng quyết chí đời này không lấy vợ nữa.

Chư Sinh ở vậy đến ngoài ba mươi. Cho đến một hôm đi ra ngoài trấn dạo chơi, vô tình đi lạc lên núi Thanh Sơn liền bắt gặp một thiếu nữ rất đẹp, nàng mặc bộ y phục màu trắng, tóc mai rủ đen. Nhìn thân phận nàng hẳn là tiểu thư đài các con nhà quyền quý. Chư Sinh thấy nàng đâm ra mê mẩn đến mất ăn mất ngủ. Hôm nào cũng chỉ canh cho thịt lợn bán mau chóng hết để lẻn ra sau núi ngắm người đẹp.

Người đẹp mặc y phục trắng tuy kiểu cách mỗi hôm đều khác nhau nhưng màu sắc vẫn vậy. Nàng thường đi bộ một mình trên lối đường mòn dẫn lên núi, Chư Sinh cũng không biết vì sao nàng hay xuất hiện ở vùng này như vậy, nhưng nhiều lần đi theo thì đều mất giấu nàng.

Có hôm Chư Sinh nhất quyết bám theo, sát nút đến mức chỉ cách độ mười thước. Mà đến khi lên đến lưng chừng núi thì liền mất giấu.

Nhiều lần như vậy càng làm Chư Sinh tỏ ra rất hiếu kỳ nên càng cố tìm hiểu cho kỳ được. Một hôm chàng theo dấu thiếu nữ đến lưng chừng núi thấy nàng ta vẫn biến mất như lần trước. Lần này Chư Sinh không dừng lại, chàng đuổi theo nắm lấy cổ tay nàng kéo lại muốn hỏi chuyện. Nhưng chớp mắt một cái nàng đã lại biến mất. Trong lòng bàn tay của Chư Sinh còn vương lại một ít bột phấn vụn màu trắng lốm đốm.

Từ hôm ấy chàng đoán thiếu nữ kia có thể là yêu hoa, là hoa đã hóa thành yêu tinh có hình thù giống người. Nhưng không vì thế mà Chư Sinh sợ hãi, còn càng mê mẩn hơn. Trong những câu chuyện cổ, chàng thường nghe người ta kể có người vì say mê yêu tinh mà chết rất đáng sợ, cũng có người vì yêu lầm yêu tinh mà sau này được truyền cho phép thuật trở thành thần tiên. Những chuyện ấy như mộng tưởng vụt qua.

Qua trung tuần tháng Giêng là tiết thanh xuân, người ta đi khắp xứ du ngoạn đầu xuân rất nhiều. Ngóng dịp ấy chàng phục sẵn ở dưới chân núi. Chàng đoán thế nào thiếu nữ yêu tinh kia cũng ham muốn thú vui nhân gian sẽ xuống núi vào dịp này để ngoạn tiết xuân. Quả nhiên là vậy, thiếu nữ xuất hiện vận đồ trắng, toàn thân mùi hương ngào ngạt, nét mặt xinh đẹp. Nàng đi lẫn vào đám người du ngoạn.

Chư Sinh bám theo chờ dịp. Đến độ giữa trưa, không ngờ có lão thầy lang tên Tiết đi ngang qua nhìn thấy thiếu nữ liền nổi máu dê. Lão là người có thế trong trấn, có bọn lưu manh theo hầu. Sau một hồi thăm dò, lão biết nàng chỉ có một mình, bèn cố ý xúi đám lưu manh bắt cóc nàng giở trò suồng sã.

Việc ấy Chư Sinh biết được, lấy làm tức giận. Nhân lúc lão sơ ý thì liền rút dao mổ lợn đâm lão một nhát. Máu phun ra thành tia còn chảy nhiều hơn cả cắt tiết lợn. Lão Tiết trợn mắt chết ngay tại chỗ. Chư Sinh trốn vào đám đông. Người du ngoạn hoảng loạn, tri hô bắt hung thủ nhưng lại không biết là ai vì xung quanh có quá đông người.

Đám lưu manh sau vì lão Tiết đã chết nên đều bỏ về hết. Chư Sinh bám theo thiếu nữ. Đến con ngõ vắng, thiếu nữ ngoặt vào một hẻm nhỏ. Chư Sinh vẫn bám theo, đi được độ nửa bước thì có giọng nói êm dịu nghe sao rất mùi tai hỏi:

– Sao chàng cứ bám theo ta mãi thế?

Chư Sinh ngoảnh lại nhìn nơi phát ra âm thanh ấy thì đã thấy thiếu nữ nhìn mình cười. Chàng mừng lắm, liền chạy tới cầm lấy tay nàng lập tức thủ thỉ:

– Ta vốn ái mộ nàng, nhưng ngặt vì chưa biết tên họ nên không dám làm quen. Nàng đã phát giác rồi thì không dám giấu giếm nữa, nay ta nói chỉ muốn bên nàng, nguyện cả đời này chỉ yêu mình nàng!

Thiếu nữ nghe xong liền rụt tay lại, miệng cười nói:

– Làm gì có ai vừa mới gặp đã thề non hẹn biển nhiều như vậy. Nếu chàng đã có lòng thì đến ngày mười lăm tháng sau đến núi Thanh Sơn gặp ta.

Thiếu nữ nói xong liền quay đầu đi thẳng. Chư Sinh gặng hỏi theo:

– Ta vẫn chưa biết tên họ nàng là gì?

Thiếu nữ đáp:

– Thiếp họ Liễu, tên gọi là Huệ Tây, xin chàng nhớ kĩ cho…

Rồi mất bóng ở cuối con ngõ nhỏ. Chư Sinh đuổi theo đến cuối thì chỉ thấy đó là con ngõ cụt, càng khẳng định Huệ Tây chính là Yêu tinh hoa hóa thành. Chàng xòe lòng bàn tay ra nhìn kĩ thì phát hiện rất giống như lần trước, tay chàng toàn là những vụn phấn hoa, ngửi thì thấy rất thơm.

Chư Sinh về nhà định chờ đến ngày mười lăm tháng sau sẽ lên núi Thanh Sơn một chuyến. Nhưng rủi là chưa kịp đến dịp ấy thì quân Minh tràn vào bờ cõi, nhà Hồ mất nước. Cả trấn Thanh Sơn bị quân giặc càn quét giết chết không biết bao nhiêu mạng người, Chư Sinh cũng nằm trong số ấy. Năm ấy Chư Sinh đã gần bốn mươi tuổi.

Kiếp sau của Chư Sinh là chàng Đào Nguyên, chàng sinh trưởng trong một gia đình thế tộc. Có cha làm quan biện sĩ dưới trướng chúa Trịnh Sâm.

Đào Nguyên từ nhỏ cho tới lớn được mệnh danh là mọt sách ít khi thấy xuất hiện giao du ở bên ngoài.

Gặp hôm tiết trời nồm ẩm, Đào Nguyên trong lòng bức bối liền tới núi Thanh Sơn du ngoạn một chuyến. Chẳng ngờ chàng đi đến lưng chừng núi thì liền bắt gặp một thân cây hoa rất lớn, cây hoa cao quá đầu người. Cả đời chàng bình sinh chưa bao giờ nghĩ đến chuyện có thể gặp một cây hoa lớn như vậy nên lấy làm thích thú lắm. Từ bấy về nhà tìm thợ giỏi định bụng hôm sau đem cây hoa kia đào cả gốc rễ lên đem về trồng.

Một hôm, Đào Nguyên nằm ngủ gặp trong mộng một thiếu nữ áo trắng. Nàng hiện ra ngồi ở bên bực cửa khóc thút thít nói:

– Thiếp vốn không thù không oán gì với chàng sao chàng nỡ hại thiếp.

Đào Nguyên gặng hỏi mãi thì nàng ta mới nói:

– Thiếp vốn là cây hoa ấy đây, nếu như chàng không muốn giết thiếp thì đừng đào cây hoa ấy lên, thiếp sẽ tương báo.

Đào Nguyên đồng ý ngay, sáng hôm sau khi tỉnh dậy thì liền báo với người thợ là thôi không phải làm nữa. Rồi lại lên núi Thanh Sơn đứng trước cây hoa thủ thỉ:

– Nếu quả như những điều đêm qua là thực, thì xin hiện rõ mặt mũi cho ta gặp mặt.

Quả nhiên một lúc sau, từ phía sau Đào Nguyên xuất hiện một thiếu nữ, da trắng mặt mịn, nét mặt tươi tắn. Đào Nguyên lấy làm mừng rỡ liền chạy tới cầm tay định thân cận, nhưng bị thiếu nữ gạt ngay ra nói:

– Thiếp tuy không phải giống loài người, nhưng cũng là phận nữ nhi, cần phải theo lễ giáo chứ không làm trái được.

Đào Nguyên hiểu ý liền thề thốt nói ngay:

– Vậy ta sẽ cưới hỏi nàng đàng hoàng, xin cha ta đem sính lễ đến gặp mặt!

Nói xong liền quay đầu bỏ về gấp ngay. Hôm sau hối cha chuẩn bị sính lễ đem đi hỏi vợ. Cha chàng hỏi thông gia là người như thế nào, chàng một mực không trả lời. Đến hôm sau, sính lễ chưa kịp chuẩn bị xong thì lại có kẻ rèm trong phủ chúa. Chúa tức giận liền đem cả nhà Đào Nguyên ra chém, lại tru di tam tộc.

Năm ấy Đào Nguyên mười chín tuổi.

Trải qua ba kiếp, mà chàng Phùng Thiệu năm xưa đều chết một cách bất đắc kỳ tử làm cho yêu tinh hoa cảm thấy rất kỳ lạ. Sau cùng nàng tìm hiểu thì mới biết được cái gì là nghiệt duyên. Chàng Phùng Thiệu ấy ba kiếp không lấy được vợ là vị có hôn ước với thần linh. Lại phạm phải trọng tội là phải lòng yêu tinh như nàng nên mới chết bất đắc kỳ tử. Chàng lấy người phàm thì thần linh trừng trị người phàm phải chết thế cho chàng. Nhưng chàng lấy yêu tinh thì thần không quản được, nên chỉ đành giết chàng để giữ mối duyên.

Yêu tinh biết chuyện ấy nên giận thần lắm, âm thầm chờ đến kiếp sau mà phá mối nghiệt duyên này. Nàng không chờ chàng đến tìm, mà sẽ tự đi tìm chàng để ép duyên phá bỏ tâm tư của thần.

Kiếp sau của chàng Đào Nguyên lại là một đạo sĩ họ Trịnh tên Cung. Đời này đạo sĩ Trịnh Cung cực kỳ thù hận giống loài yêu tinh, có lẽ sớm thỏa ước nguyện của thần.

Trịnh Cung nổi tiếng trừ tà cao minh, lại theo học môn trừ yêu của hai phái Lỗ Ban và Mao Sơn, có rất nhiều đồng đạo cao tay.

Trịnh Cung khi thành đạo tự bấm đốt ngón tay, tự biết là mình có ba kiếp nghiệt duyên với yêu tinh. Bèn tự động muốn chặt đứt mối duyên này, lập đàn thờ trời rước thần có duyên trên trời làm lễ giao bái cách mặt.

Lễ làm xong thì bầu trời rung chuyển mọi sự tươi sáng, yêu tinh biết được Trịnh Cung đã thành thân với thần linh liền tức giận. Từ bấy chuyển ái mộ thành thù hận, dùng nhiều thủ đoạn ma quỷ để hòng giết Trịnh Cung.

Nàng ta hóa thành một vị ni cô già, khất thực ở đầu đường. Ngày thì đi xin ăn, tối đến thì lại vào miếu hoang mà ngủ. Cái miếu hoang ấy ở ngay trước cửa đạo quán.

Trịnh Cung không nghi ngờ gì về vị ni cô này, cho đến sau này chàng ta phát hiện ra quanh đạo quán có lắm yêu khí, dùng pháp thuật gặng hỏi mãi thì mới được thần thổ địa thổ lộ:

– Ở ngay gần đạo quán của anh, có con yêu hoa hóa thành tinh đã mấy trăm năm tuổi. Nó chờ trực sẵn ở đây đã mấy tháng, chỉ để giết anh thôi đấy!

Trịnh Cung nghe xong lấy làm giận lắm, bèn một tay xách kiếm gỗ xông thẳng đến miếu hoang muốn tìm ni cô để chém giết. Yêu hoa không biết chuyện, vẫn cứ ra vái chào Trịnh Cung thì bị chàng chém cho một nhát rụng cả cánh tay. Yêu tinh hoảng sợ bỏ trốn, hóa thành cơn gió bay đi. Từ bấy thù hận với Trịnh Cung ngày càng nặng, trên sườn núi Thanh Sơn người ta có thể thấy bông hoa khổng lồ ngày nào nay đã bị mất mất một cánh hoa trông kém sắc hẳn.

Lần khác, Trịnh Cung có việc phải qua trấn Quốc Oai gặp người đồng đạo. Đi ngang qua ven đường thì gặp bà ăn xin hết sức rách rưới, bèn mủi lòng thương cúi xuống cho một đồng tiền. Nào ngờ rằng đó chính là yêu tinh hóa thành, nhân lúc chàng sơ hở liền chọc cho Trịnh Cung một nhát dao vào con mắt. Con mắt phải của Trịnh Cung dính nhát dao, bèn rớt xuống khỏi lỗ mắt toét ra.

Trịnh Cung mau lẹ lùi lại định chém yêu tinh một nhát thì yêu tinh đã chạy mất. Từ bấy Trịnh Cung bị mù một mắt, thù hận giữa hai người càng sâu đậm.

Bất giác tính từ kiếp đầu tiên hai người vốn là có ân tình mà trải qua ba kiếp lại trở mặt thành thù, cũng là số phận.

Chớp mắt người đàn ông tóc dài, có râu trắng bạc phơ đã kể xong câu chuyện. Lãng ngơ ngác hồi lâu vẫn còn hồi tưởng lại, rồi lại hỏi:

– Vậy chứ cái ông tổ sư Trịnh Cung ấy của thầy về sau có giết được con yêu tinh hoa ấy không?

Người đàn ông râu trắng trả lời:

– Làm gì có giết được, con yêu tinh ấy ngày càng ranh ma. Sau cùng tổ sư tôi còn phải bỏ lên núi ở mới tránh để không gặp được nó cơ đấy!

Lãng nhìn lên cái ban thờ bài vị sau lưng người đàn ông râu trắng. Thấy có vẽ hình thù một lão đạo sĩ râu cũng rất dài, trong tay cầm một cây phất trần có sợi trắng rủ tận đầu gối. Liền hỏi:

– Vậy chứ bức tranh mà thầy treo kia có phải là họa cái ông Trịnh Cung ấy không, vừa vặn cũng thiếu mất một con mắt!

Người đàn ông râu trắng trả lời:

– Phải, chính là ngài! Tổ sư không lấy vợ cũng chẳng có con, mà cũng không nhận đệ tử, thế mới lạ…

Lãng vỗ đùi đen đét tấm tắc nói:

– Thế chứ, tôi là tôi hâm mộ mấy cái ông đạo sĩ trong chuyện cổ như thế lắm. Khéo còn oai hơn cả mấy tay kiếm khách trong truyện Kim Dung.

Người đàn ông râu trắng nghe xong mà râu cứ như muốn xoắn tít lại, trợn mắt nói:

– Hỗn hào, anh không được phép xúc phạm người tu đạo như thế nhé. Mà thôi, tôi cũng bói xong quẻ cho anh rồi, mời anh về đi cho.

Nói xong thì người đàn ông râu trắng phẩy tay đuổi Lãng ra về, rồi lại nhanh tay thêm một lần nữa cầm tờ pôlime năm mươi nghìn đút vào túi quần.

Lãng nhìn đến đây liền cười khanh khách nói:

– Ui trời, tôi tưởng ông bác cao sang thế nào, chứ hóa ra hậu nhân của cái ông thần kia mà vẫn tham tiền đến thế cơ à!

Người đàn ông râu trắng không nói gì, chỉ trừng mắt lườm Lãng một trận. Lãng cũng không đôi co với ông ta, chỉ quay đầu cười và đi thẳng.

Đầu xuân anh đi chùa một chuyến, cũng là để thả lỏng tinh thần cho những ngày sắp tới lao đầu vào công việc.

Lãng vốn xuất thân là anh bán thịt lợn, có lẽ cũng rất giống với kiếp thứ hai của Trịnh Cung kia. Lần này lên đi thăm chùa, thấy có ông thầy rút quẻ số ngồi chễm trệ ở một góc, anh mới nổi hứng mới nhờ ông ta xem cho một quẻ. Nào ngờ ông thầy này phán ngay là số anh bị ma theo, không lấy được vợ. Lại còn đem chuyện của cái ông tổ sư nào đó của ông ta ra kể để dọa Lãng.

Lãng nghe mà chỉ cảm thấy buồn cười, muốn cho ông thầy này một cái bạt tai. Nhưng ngẫm lại thì anh thấy câu chuyện mà ông thầy kể rất giống chuyện Liêu trai, nghe cũng có vẻ hay nên cũng không tiếc số tiền đưa cho ông ta, coi như là tiền nghe ông ta kể chuyện.

Lãng về đến nhà, hôm sau vào nhà dân hối bắt hai con lợn để chuẩn bị thịt bán. Lãng đem hai con lợn nhốt ở cái lồng phía sau gian nhà.

Nhà của Lãng tính ra cũng là nhà mặt phố, lại nằm ngay trên con đường giao lộ qua lại buôn bán sầm uất tấp nập. Bố mẹ Lãng chết từ năm Lãng mới tròn hai mươi hai tuổi. Năm ấy hai ông bà đi du lịch thì cả chuyến xe chở ông bà bị tai nạn lao xuống vực, người chết hết cả. Sau này cứ mỗi dịp trước khi tết đến, Lãng vẫn thu xếp đến nơi tai nạn để thắp hương.

Con đường nằm trên giao lộ đi qua Lương Sơn khiến thị trấn rất sầm uất. Có nhiều cánh lái xe khách vẫn thường hay qua lại nghỉ chân.

Sắp xếp xong xuôi cho hai con lợn nhốt trong lồng, Lãng mở khóa cửa, kéo chiếc bàn gỗ thường ngày ra ngoài, vệ sinh lau chùi cho thật sạch sẽ.

Khi Lãng mới mở cửa được một lúc, chợt phát hiện trước cửa có một chậu hoa Huệ Tây đã được đặt ở đó sẵn, cũng không biết là người nào đã để.

Lãng cau mày suy xét, cũng cầm chậu hoa kia vào nhà và đặt ở một chỗ. Hoa Huệ Tây vốn là một loài hoa đẹp, có mùi hương thơm đậm và nở rất lâu. Đặt hoa Huệ Tây trong nhà còn có thể thơm hết cả gian phòng. Lãng biết được có người cố ý đem tặng cho mình chậu hoa này thì thích thú lắm, trước tạm thời không nghĩ đến chuyện mổ lợn. Mà chỉ suy tính xem đặt chậu hoa này ở đâu cho hợp.

Chậu hoa huệ tây cao cỡ hai mươi Centimét, lại có cành lá cao lên gấp đôi lần như thế. Đặt lên chiếc ban thờ thì không hợp vì bàn thờ quá nhỏ, mà đặt trên bàn thì cũng không được lịch sự cho lắm và trong đó có rất nhiều đất. Sau cùng Lãng quyết định đặt chậu hoa huệ tây này ở đầu giường để ngày ngày có thể ngắm nhìn.

Đặt xong chậu hoa, Lãng lại đi về phía chiếc bàn gỗ mà thường ngày anh dùng để mổ lợn. Lãng đem chiếc bàn kéo ra ngoài sân, phun nước rửa ráy mặt bàn cho sạch sẽ, lại kị cọ chiếc bàn bằng cái giẻ cũ mà anh đã giặt sạch sẽ.

Nhưng không, có vẻ như là anh đã lầm. Ngay lúc này, giữa đêm khuya ngoài cửa lại có một tiếng động gõ lên vang đều.

Lãng giật mình tỉnh giấc, làu bàu đứng dậy nhòm qua khe cửa xem là ai làm phiền anh trong giấc ngủ giữa đêm khuya như vậy. Hóa ra đó là lão thầy bói. Anh vội mở cửa ra rồi hỏi lão ta:

– Trời ơi ông làm gì mà giữa trời khuya trời khoắt như thế này gõ cửa nhà tôi. Mà sao tôi tưởng ma quỷ tí giật són đái. Sao ông bảo ông về rồi cơ mà, chính ông còn dặn tôi như thế?

Lão thầy bói lạnh run lập cập nói:

– Tôi bị lỡ chuyến xe, lại đi bộ nữa nên giờ mới về được đến đây.

Lãng bật cười ha hả nói:

– Hay cho lão thầy bói mù dở, còn bày trò thanh cao giả thần lộng quỷ, ra trò cao nhân đắc đạo với tôi nữa đi. Cho lão đáng đời, giờ thì vào đây…

Lãng mở cửa giơ tay nghênh đón lão thầy bói. Lão ta run lập cập bước vào trong nhà, rồi chui thẳng lên giường đắp chăn nhắm tịt mắt. Lãng còn đang định hỏi là lão đã ăn gì chưa nhưng lại thấy lão đã ngủ rồi, nên đành thôi.

Lãng cũng chui lên giường ngủ tiếp, rồi anh lại ngủ say. Đến thêm một lúc nữa, Lãng đang ngủ lại bị giật mình tỉnh dậy vì thứ tiếng động loẹt quẹt. Lão thầy bói giờ này đã không còn ở bên cạnh anh mà đã đi đâu mất. Khi ngoảnh đầu nhìn lại, Lãng chợt thấy lão ta đang lui cui ở dưới hộc bếp, ngay gần cái chậu tiết lợn ôi thiu đã đông cứng từ tủ lạnh mà anh mới xả ra hồi chiều.

Lãng bật dậy soi đèn pin rọi thẳng về phía ấy, thì ngay lập tức anh giật mình kinh hãi. Vì lão thầy bói từ lúc nào đã sục hẳn cái mặt của lão xuống dưới cái chậu tiết ôi thiu đỏ lòm, miệng tợp lấy thứ tiết đỏ như một con chó đang uống nước. mắt lão ta lấp láy, trong đó có cái màu gì đó đỏ rừng rực như lửa, môi lão ta dính máu nhưng vẫn có màu vàng tươi.

Lãng kêu lên:

– Lão làm cái trò gì thế?

Lão thầy bói giật mình, quay người lại nhìn Lãng, người lão hơi run run, lão nói:

– Tôi đói quá, nên nhịn không được!

Lãng gấp giọng nói:

– Trời ơi lão đói thì lão nói cho tôi biết, đấy là tiết thiu, mà lão cũng vục đầu vào uống được. Chưa kể run sán gì đấy đầy trong tiết…

Nói xong Lãng lại hối cho lão ta đi rửa mặt, rồi nấu cho lão ta một bát mỳ hối lão ta ăn. Lão ta ăn xong bát mỳ rồi lại lên giường nằm. Lãng cũng đi ngủ.

Đến khi Lãng đã ngủ say, không ngờ lão thầy bói thức dậy, miệng lão nở nụ cười đầy độc địa. Lão mở miệng há thật to hướng về phía Lãng. Chỉ thấy từ trong miệng Lãng bay ra một thứ khí màu xanh chui vào miệng lão.

Mặt lão thầy bói giờ này chợt biến đổi sang khuôn mặt của một cô gái, có khuôn mặt nổi đầy gân xanh, làn môi vàng chóe, đôi mắt đỏ tươi rừng rực lửa. Hóa ra nó chính là yêu tinh, là con yêu tinh trong rừng sâu trước đây mà Lãng đi trừ chứ chẳng phải thứ thầy bói nào hết.

Ai ngờ rằng, lão thầy bói kỳ thực đã chết kể từ khi Lãng đi khỏi, cái tiếng thét u u nghe nhỏ tai khi đó chính là tiếng thét của lão ta ngã xuống vực.

Còn yêu tinh hóa thành hình dáng lão ta quay về đây để lừa Lãng. Nó đem hết năng lực của mình vào trong nhà để hút lấy sinh khí của Lãng. Lúc trước một chậu hoa chỉ là một ngón tay của nó, còn giờ này là cả thân người của nó đã lọt vào trong nhà. Nên sinh khí của Lãng chẳng mấy chốc đã bị nó hút sạch. Sắc mặt Lãng chuyển sang xanh như tàu lá chuối rồi tắt thở.

Con yêu tinh cất điệu cười the thé gằn giọng nói:

– Trịnh Cung, kiếp trước chính ngươi cũng chẳng thể đốt nổi ta. Kiếp này một tên truyền nhân quèn của người cũng tính làm việc ấy hay sao?

Rồi lại vỗ vỗ vào mặt Lãng và nói:

– Ta và ngươi có duyên ba kiếp, mà có nghiệt thì vô cùng. Không ngờ kiếp sau của Trịnh Cung đời này lại giống Chư Sinh kiếp thứ hai như vậy, cũng chỉ là một anh Lãng bán thịt lợn… Ta tiếp tục chờ đến kiếp sau của ngươi. Hai chúng ta thù hận không bao giờ dứt…

Nói xong Yêu tinh lại cười chói tai rồi hóa thành một làn khói xanh biến mất.

Bỗng hồn ma Hùng đầu trọc lại xuất hiện, gã đến trước mặt xác của Lãng thì thào nói nghe rất rõ: “Yêu tinh, yêu tinh, nó giết tôi rồi. Chạy đi, xác tôi nát rồi…”

Bóng ma của Hùng đầu trọc biến mất.

Trong miệng Lãng chợt rỉ ra một dòng máu, chảy xuống nền đất dần tạo thành một dòng chữ đỏ tươi hết sức quỷ dị: “Thù sâu vô tận – hận kiếp vô cùng – Trịnh Cung!”

Hết!

Đôi lời: bạn đọc nếu thấy hay, xin bình luận cho tác giả được vui. Nếu truyện thành công, tôi xin viết riêng một bộ tiểu thuyết tâm lý tình cảm kinh dị về ba kiếp đầu tiên để tri ân. Xin cảm ơn!

Ngạ Quỷ

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here