Hàng trăm năm trước, ở bên xứ tàu có thịnh hai môn phái lớn mạnh về thuật bỏ bùa là phái Lỗ Ban và phái Mao Sơn. Người xưa thì thường nghi kị hai phái này và xếp họ vào trong những loại môn phái tà ma ngoại đạo. Và hiếm khi những người thuộc môn phái này lộ diện ra cõi đời. Thậm chí bẵng đi một thời gian, người ta còn cho rằng hai phái này đã tuyệt tích, chỉ còn là hư danh. Và rằng hai phái kiệt mạch đệ tử, nên đã sớm bị thất truyền.

***

Chôn xác hồi sinh quỷ

Dẫu vậy, thi thoảng vẫn có tích truyện khác kể lại rằng, đệ tử của hai phái này lẩn khuất trong đời, giấu đi danh tính thực mà thi hành công việc trừ tà. Số đệ tử hai phái cứ ngày một xuất hiện hiếm hoi, sau cùng đến thời Thanh mạt đã không còn rõ nữa.

Phái Lỗ Ban lưu truyền từ Lỗ Ban Tiên Sư, người nước Lỗ thời Xuân Thu. Lỗ Ban giỏi về nghề mộc và chế tạo, sau này khi ông đắc đạo còn truyền lại cho đệ tử những loại bùa phép để trừ tà khắc lên đồ mộc. Phái ấy về sau phát triển càng thịnh, rồi phân ra thành rất nhiều chi nhánh, nhưng tựu chung vẫn gọi là phái Lỗ Ban.

Phái Mao Sơn thì khác biệt, phái này do ông Đào Hoằng Cảnh, sáng lập ra tại vùng Mao Sơn. Phái này cũng tập trung vào bùa chú, nhưng lại thiên về việc dẫn thi hồi hương, hay còn có thể hiểu theo một cách khác, là phái Mao Sơn thịnh một việc là biến người chết thành cương thi rồi dán bùa chú của mình, cho nó tự đi về quê hương để chôn cất. Thời nhà Thanh, phái này cũng rất thịnh với việc vận chuyển xác, bởi theo cách như vậy vẫn rất thuận lợi.

Thế nhưng suy cho cùng, cả hai phái này về đến thời hiện đại, đã dần vắng bóng và không còn rõ lai lịch. Những lời đồn đại vẫn cứ thế tiếp diễn, những cuộc truy tìm những truyền nhân thực sự của hai môn phái này nổ ra trên khắp các quốc gia châu Á. Họ tìm kiếm những truyền nhân của hai phái này, đều có những mục đích riêng của mình. Một là để trấn yểm ma quỷ, khiến cho dòng họ hưng vượng. Hai là muốn mượn tay những người như thế để triệt hạ kẻ đối địch.

Những truyền nhân chân chính của hai phái thì không bao giờ dính vào ác nghiệp. Suy cho cùng, nếu có chăng thì cũng chỉ là những con cá lọt lưới, mười kẻ biết nghề thì cũng chỉ có một hai kẻ là vì sức cám dỗ của đồng tiền mà bán rẻ tư cách. Ấy thế nhưng những truyền nhân thật sự của hai phái cho dù có là thiện hay ác thì cũng rất khó tìm. Mà lại nổi lên những kẻ bịp bợm lừa lọc, học được chút da lông của hai phái, vỗ ngực tự xưng mình là truyền nhân chân chính để đi lường gạt, kiếm trác bỏ túi, tư lợi cá nhân.

Ở vùng Tà Xùa huyện Bắc Yên tỉnh Sơn La, có một tích truyện kể lại rằng. Hằng trăm năm trước có ông thầy pháp người tàu qua định cư ở núi này, tự xưng là có thuật pháp cao minh của phái Mao Sơn, cả của Lỗ Ban lưỡng đạo, có thể hồi thi sống lại rồi đem đi chôn cất ở nơi phù hợp với nghiệp căn của người. Không chỉ giỏi về pháp thuật bỏ bùa, phép hồi thi, mà ông ta còn rất giỏi phong thủy.

Dưới vực Tà Xùa có một cây liễu nhỏ, người ta kể rằng sau khi ông thầy pháp đó chết đi, đã được chôn cất tại gốc cây liễu ấy. Sau cùng thì vì tử khí cái xác của ông ta quá nặng, mà hóa thành cương thi. Rồi xác của ông ta tự động di chuyển được mà chạy về hướng bắc. Người ta cho rằng ông ta khi chết đã tự hạ bùa lên thân mình, cho cái xác sau khi chết có thể tự động hồi hương. Còn cây Liễu nhỏ nơi trên mộ phần của ông ta, cũng được cho rằng đã hóa thành yêu tinh. Rồi sau này cây liễu ấy cũng biến mất, có thể là vì nó đã hóa thành tinh rồi tự bỏ đi, hay có thể là vì bị người ta chặt bỏ.

Kể đến đây, bà cụ chép giọng ngừng bặt. Đứa cháu gái nhỏ vẫn đang chăm chú lắng nghe, mà nuốt từng miếng nước bọt hồi hộp. Nó chờ mãi, chờ mãi mà chẳng thấy bà cụ trả lời. Nó đành cất tiếng hỏi:

– Câu chuyện có vậy thôi hả bà? Rồi cái cây liễu ấy đi đâu, nó còn sống hay đã chết? Cái vực Tà Xùa gần nhà mình có cái cây ấy thật ư?

Bà cụ gật đầu, xoa đầu đứa cháu gái nhỏ rồi âu yếm nói:

– Hồi bà bằng tuổi cháu, cũng có một lần xuống vực Tà Xùa. Và cũng được chiêm ngưỡng qua cái cây ấy, nhưng hồi ấy bà cũng chỉ dám đứng ở trên vách đá, cách xa lắm để nhìn xuống, chứ không dám lại gần. Lâu dần, sau này có một vài lần bà quay lại nơi đó, nhưng cái cây liễu ấy cũng đã biến mất mất rồi cháu à.

Đứa cháu gái chép miệng tỏ vẻ tiếc nuối, nó quay lưng đứng dậy. Rồi đi về phía gian phòng cuối nhà, chui tọt vào bên trong, mà chẳng thấy quay ra nữa.

Bà cụ tươi cười, tay bà liên tục nhanh thoăn thoắt. Bà đút củi vào mồi lửa dưới đáy nồi nhôm đen kịt, để lửa có đủ củi mà cháy thật bén.

Sau lưng bà cụ, có một người đàn ông chừng bốn mươi tuổi, đang xoa tay, mắt nhìn vào mồi lửa cháy bén mà nghĩ ngợi hồi lâu. Người đàn ông ấy là ông Khanh con trai cả của bà cụ.

Ông Khanh có vẻ rất có hứng thú với câu chuyện mà bà cụ vừa kể. Ông suy đi tính lại, lòng tham nổi lên vì có ý niệm muốn lấy được gỗ của cây liễu cổ. Ông cố gằn lòng lắm, nhưng vẫn không nhịn được mà bấm bụng liều hỏi bà cụ:

– Vậy cái chuyện cây liễu ở dưới vực Tà Xùa là có thật hả mẹ?

Bà cụ ngừng dụi củi, chợt quay sang nhìn ông Khánh rồi thản nhiên nói:

– Thật chứ sao không? Ngày xưa chính bố mày còn ngồi ở cái gốc cây ấy, cái cây liễu ấy nhiều tuổi rồi nên to lắm. Liễu rủ xuống xanh um, hiếm có được cây liễu nào mà sống lâu được như nó…

Ông Khanh run run giọng, nói ngắt quãng:

– Lớn cỡ nào hả mẹ… có cỡ khoảng hai, ba người ôm không?

Bà cụ xua tay nói với vẻ rất nghiêm trọng:

– Ba người ôm là thế nào, cỡ nó thì phải bảy tám người ôm cũng chẳng xuể. To như cây đa dưới quê ấy!

Ông Khanh nuốt nước bọt hỏi:

– Liễu mà cũng có thể to như thế hả mẹ?

Bà cụ gật đầu chắc nịch nói:

– Chứ sao không, nó đã là cây liễu thành tinh rồi! Lớn như thế chứ lớn nữa có ăn nhằm gì. Nó sống dai là nhờ có cái xác của ông thầy phép chôn ở đấy, nên được hưởng ké cái phúc âm. Chứ bằng không thì chẳng bị sét đánh mấy lần chết ngẻo rồi…

Ông Khanh nghĩ ngợi gì một chốc, đôi mắt chợt như lóe sáng, rồi vội quay đầu sang nói với bà cụ:

– Đêm nay con không ăn cơm ở nhà, con qua nhà chú út. Mẹ đừng nấu cơm con…

Nói xong, ông Khanh vội vàng đứng phắt dậy quay đầu đi thẳng.

Bà cụ toan gật đầu, nhưng chợt bà lại nghĩ ngợi đến điều gì đó, thì liền hoảng sợ, kêu toáng lên gọi ông Khanh:
– Này, chúng mày chớ có tơ tưởng gì đến cái cây liễu ấy. Mày mà động vào không què cụt chân tay, thì cũng méo mồm đấy con ạ, cái cây ấy… nó có ma…

Nhưng tiếng bà cụ vang đều, mà chẳng có âm thanh nào đáp lại. Hẳn là ông Khanh đi vội quá nên không kịp nghe thấy tiếng bà cụ. Bà cụ thở dài, chân tay bà yếu chẳng thể đi lại nhiều, chỉ mong ông Khanh đừng có cái ý định dại dột ấy, thì may sao mọi chuyện còn êm xuôi, chứ bằng không thì…

Bà nghĩ, rủi chăng mà ông Khanh thật có cái chủ ý ấy, thì không chỉ ông tận số kiếp, mà còn liên lụy đến vận số của cả nhà bà cụ, ngay cả đứa cháu gái đang ngủ trong buồng kia cũng không thoát được cái kiếp nạn ấy, đều phải chết bởi lời nguyền bùa ngải của ông thầy pháp người tàu.

Ông Dương lụi cụi đóng cây đinh sắt cột thật chắc cái chân giường đang bị lung lay, trực sắp kéo cả cái giường đổ sập xuống. Chợt ông nghe thấy có tiếng âm thanh vang lên ồm ồm từ ngoài sân vọng vào:

– Dương, có nhà không, anh Khanh đây!

Ông Dương ngoái đầu nhìn ra ngoài, chợt ném cái búa xuống nền đất, rồi phủi tay đứng thẳng dậy, đi ra chỗ bàn uống nước, xoa tay vô cái giẻ lau qua một lượt. Lại lấy một ấm trà với cái phích nước nóng ra, pha một ấm trà, vừa làm những thao tác ấy, ông Dương vừa nói:

– Dạ có ạ, anh vào đi, em cũng vừa mới về nhà xong thôi!

Ông Dương vừa nói xong, thì cũng đã thấy dáng ông Khanh lấp ló ngoài cửa bước vào. Ông Khanh hai tay đút vô túi quần cho ấm bước đi khoan thai.

Trời mùa đông vùng Tây Bắc sương lạnh, bụi mù tung khắp nơi, cái lạnh rét buốt khiến người ta chỉ muốn ngồi bên bếp lửa ấm. Mà ông Khanh lại lặn lội đi ra giữa trời rét này, chắc là có việc gì gấp lắm. Thường thì người Tây Bắc mùa đông có rất ít vụ, đa phần đều đã tích trữ lương thực từ mùa trước… Vậy thì việc ông Khanh ra khỏi nhà vào cái trời đông giá lạnh này quả thật là một sự lạ.

Ông Khanh ngồi xuống chiếc ghế băng, nhanh tay cầm lên chén chè nóng ông Dương vừa mới pha. Cầm chén chè lên vừa xoa tay vừa xoa chén rồi nói:

– Tôi có việc này quan trọng lắm, phải cần bàn bạc với chú…

Ông Dương nhấp một ngụm trà đặc, rồi mới híp mắt từ tốn hỏi:

– Chuyện gì thế hả anh?

Ông Khanh đặt chén chè lại bàn, rồi mới tặc lưỡi nói:

– Tôi nghe bà cụ nói, dưới vực Tà Xùa có cây liễu cổ lắm!

Ông Dương đang thong dong, liền trợn mắt, thả giọng hỏi dồn:

– Bà cụ nói có cây liễu cổ lắm ở dưới vực Tà Xùa hả anh?

Ông Khanh gật đầu chắc nịch nói:

– Bà nói là có, mà hồi trẻ bà cũng trông thấy mấy lần. Mà bà nói là lần cuối bà xuống vực Tà Xùa thì không còn thấy cái cây ấy nữa, còn nói khéo nó thành tinh mà đã bỏ đi mất rồi!

Ông Dương vỗ đùi nói:

– Vớ vẩn, thành tinh là thành tinh thế nào, cái thứ liễu cổ ấy quý hiếm lắm. Nay anh em mình cứ xuống vực Tà Xùa thử một lần? Cho dù người ta có chặt, thì cũng chỉ chặt phần thân, chứ còn phần gốc thì hãn còn ở đấy, chỉ nhiêu ấy thôi là người xuôi đã trả ối tiền rồi!

Ông Khanh gật đầu cười hưởng ứng nói:

– Chính thế, nên hôm nay tôi mới muốn qua đây bàn bạc với chú ngay. Mình phải nhanh nhanh chóng chóng xuống ấy mà đào nốt cái gốc về, kẻo để lâu nữa nhỡ người ta thấy thì lại đẵn mất. Anh em ta mà có được thứ gỗ cổ ấy, thì có mà dư sức mua giống cả mấy vụ mà chẳng lo gì cả, rồi sắm cả xe, xây cả nhà chứ chẳng chơi!

Ông Dương vội vã đứng phắt dậy, hưng phấn nói to:

– Đi, anh em mình đi luôn, chứ để chờ thêm nữa là em chịu không nổi. Nhỡ rủi mà có thằng nào nó trông thấy thì hỏng…

Ông Khanh cười khành khạch đáp:

– Ui trời, xem chú kìa. Nếu nó mà dễ đẵn thế, thì đã chẳng chờ hôm nay mới đến lượt anh em mình. Phải tính toán xem làm sao, có thể đào được cái gốc ấy lên, phải chuẩn bị dụng cụ đồ nghề thật chu đáo thì mới được!

Ông Dương gãi đầu, xoa tai nói:

– Đấy, nhiều lúc thích thú quá mà mất khôn, anh dạy phải. Thôi thì cứ để thư thư đã vậy…

Ông Khanh lại lắc đầu nói:

– Thư thư là thế nào, chậm, nhưng không phải là chậm như thế! Ngay đêm nay, tôi với chú đi đẵn cái gốc ấy về. Tôi đã tính toán đủ cả rồi, đồ nghề thế nào cũng đã có kế hoạch. Chỉ có điều, tuy tôi không mê tín cho lắm, nhưng vẫn thích chọn giờ đẹp. Giờ đẹp để đẵn cái cây ấy là khoảng hai giờ sáng, khi ấy phần âm tản bớt, không khí trong lành. Cái giống liễu thì lại lắm tà, phải chọn giờ ấy thì mới ổn…

Ông Dương gật đầu nói:

– Anh quyết thế nào cũng được, em chỉ cần tiền thôi. Phải mua được cái xe máy thì chở ngô nó mới tiện, mùa sau còn không bị tiểu thương ép giá, có gì thì mình còn chở thẳng được đến chợ huyện mà bán ngô chứ…

Ông Khanh gật gù đáp:

– Ừ, chú tính thế là phải. Nhưng thôi, không mơ mộng viển vông nữa, cứ phải có được gỗ trong tay thì mới coi là thành công. Trước chú cứ đi nấu cơm rượu đi, anh em mình ăn no say, rồi mới chuẩn bị đồ đạc dần dần. Quan trọng là kết quả, chứ còn khi chú có tiền, mơ thế nào mà chẳng được…

Ông Dương thích chí ưng ngay, xuống ngay dưới bếp hối vợ là bà Hồng, phải nhanh chóng chuẩn bị cơm rượu thết đãi anh trai, rồi sau đấy lên bàn chuyện với ông Khanh, mưu tính chạy vạy khắp nơi trong bản để mượn đồ nghề, chỉ nói thác là để sửa nhà.

Làm xong những việc ấy, thì trời cũng đã đổ đêm, hai người quần áo mặc bận đồ đông cho thật kín gió. Rồi mới men theo con đường mòn từ bản, chạy xuống dưới đường lớn quốc lộ 37. Dọc theo con đường nhựa ấy mà đi vào lối đường dẫn qua Tà Xùa.

Đi bộ cả đêm, hai người đã thấm mệt, cuối cùng thì khoảng mười giờ đêm hai người cũng đã có mặt ở trên đỉnh Tà Xùa. Việc còn lại là chỉ chờ cho đúng giờ cho hợp phong thủy, rồi mới thả thừng xuống tận dưới đáy, để mò tìm cái gốc liễu cổ như lời bà cụ kể.

Ông Khanh đem bao thuốc lá Vinataba chìa ra, mời ông Dương một điếu, nói:

– Đây, cứ làm mấy điếu thuốc lá mà giết thời gian đi. Bao thuốc lá này là anh để dành kĩ lắm, quý mới đem ra, chứ bình thường thì cũng chỉ dám hút Du lịch với lại Thăng long mà thôi. Kì này nếu mà quả như đẵn được cái thân gỗ quý ấy, thì thuốc lá Vina anh em mình có mà còn được hút cả thùng ấy chứ…

Ông Dương không khách khí, thò tay cầm ngay một điếu thuốc lá châm ngay, nhả khói trắng đều thật đã rồi mới nói:

– Công nhận, cái thuốc lá Vina này nó vừa thơm mà vừa êm, sướng thật…

Ông Khanh tặc lưỡi nói:

– Thuốc lá đắt tiền nó phải khác chứ lại, chẳng thế mà nó lại tự nhiên đắt gấp đôi, chú lại cứ đùa!

Hai người vui vẻ trò chuyện kéo dài suốt đêm. Cuối cùng, cái giờ khắc đã định trước mà ông Khanh nói cũng đã đến. Hai giờ sáng, hai người đã bắt đầu ngay vào công việc, bằng việc thả hai sợi dây thừng xuống vực, buộc chặt mỗi đầu dây vô cái xà lan ven quốc lộ, mỗi dây cách nhau chừng vài mét. Một người được chọn đi xuống trước để thăm dò, một người còn lại đứng ở đằng trên rọi đèn pin, đồng thời trông chừng cái dây thừng.

Ông Khanh đương nhiên là người đầu tiên đòi xuống trước, trước khi đi ông còn nói:

– Anh xuống trước xem có còn cái gốc cây ấy hay không, nếu như mà nó còn, thì anh sẽ rung dây thừng cho cái chuông buộc ở giữa đoạn dây kêu lên. Khi ấy thì chú chỉ cần tuột theo đường dây thừng mà xuống với anh. Trong thời gian chờ, thì cột chắc cái dây thừng mấy lần vào cho thật ổn, tính cả cái dây thừng dự bị nữa, nhỡ kẻo đứt thì còn có cái khác mà leo lên…

Ông Khanh nói xong, liền tụt xuống dây thừng, leo trèo trên vách đá, nhanh thoăn thoắt đã dần mất bóng trong màn đêm, xa đến độ đèn pin của ông Dương rọi theo mà cũng chẳng nhìn thấy được nữa.

Ông Dương nghe lời, chỉnh sửa mối dây thừng cho thật chắc chắn, rồi cứ ngồi vậy mà chờ ở trên. Trong lúc chờ đợi, ông Dương đem cái đài radio ra mở để dò tần số đài.

Chẳng là ông Dương có cái thói quen rằng là đi đâu cũng mang theo cái đài radio, mà lại còn thêm một cái tật nữa là hễ rảnh là đem đài ra dò sóng. Mặc dù giờ là hai giờ sáng, trời tối đen như mực. Chẳng có cái đài phát thanh nào lại phát vào giờ này cả, nhất là đài địa phương lại càng không.

Những tưởng cái thói quen chỉ là vô thức ấy, chỉ là một thứ để giết thời gian. Thế nhưng không ngờ ông Dương lại dò được thật. Trong cái tiếng xèo xèo của âm loa đài ngắt quãng, ông có thể nghe thấy lờ mờ một thứ âm thanh rên rỉ kêu gào nào đó từ loa đài phát ra, âm thanh không hề rõ ràng, mà ngừng từng nhịp theo một cách cực kỳ quái dị.

– Hay thật, giờ này mà đài vẫn còn phát cải lương…

Ông Dương thích chí reo lên, bàn tay ngắc nguẩy xòe múa, mắt ông lơ đãng mà quên béng mất sợi dây thừng, chỉ chăm chăm chú ý vào cái đài radio, quên luôn cả ông anh trai đang mò mẫm dưới đáy vực.

Ông Khanh thì khác, trong lúc người em trai đang hứng chí nghe đài ở trên, thì ở dưới này, ông đang phải vật lộn với mớ dây thừng, bị cheo leo ở giữa sườn núi. Cái dây thừng bị mắc vô vách đá ở tít tận lưng chừng núi, nếu ông Dương mà chú ý, thì hẳn là sẽ thấy cái chuông rung lên bần bật cầu cứu của ông Khanh, nhưng điều đơn giản ấy lại bị cái đài radio chết tiệt ngăn cách. Ông Khanh kêu khản cả giọng mà chẳng thấy một thứ âm thanh nào đáp lại. Bất lực, ông Khanh đành phải tự tìm cách cứu lấy mình.

Từ đây xuống tới đáy vực chỉ còn độ khoảng chục mét mà thôi. Nếu ông Khanh cẩn thận thì cho dù không cần dây thừng cột chặt vẫn có thể tự mình leo xuống được.

Rồi khi có thể xuống đến đáy vực, thì còn có một sợi dây thừng khác được thả xuống cách đó hàng vài mét để dự phòng. Ông Khanh có thể dựa theo sợi dây ấy mà đu lên.

Nghĩ đoạn, ông Khanh loay hoay tháo cái nút dây thừng ngay lập tức.

Mồ hôi ông chảy càng ngày càng đặc, nút dây thừng thì cứ cứng mãi mà không sao tháo ra nổi. Ông Khanh bấm bụng, nghiến răng, định bụng rút dao ra cắt phéng đi một cái là xong. Nhưng nếu thế thì đứng không vững, không kịp bám vào vách. Nên vẫn cần phải tính toán một cách cụ thể…

“Ông có cần giúp gì không?”

Bỗng sống lưng ông Khanh gai lại, một giọng nói phát ra từ dưới đáy vực. Ông Khanh giật nảy mình, mồ hôi lạnh toát ướt đẫm sống lưng…

Giờ đã là hai giờ sáng, tại cái nơi heo hút vắng vẻ này, bình thường ban ngày còn chẳng có người. Thế nhưng lúc này ở dưới đáy vực lại có giọng nói phát ra, ông Khanh không hoảng hốt sao được.

Bà cụ đã không ít lần kể, ở dưới vực Tà Xùa nhiều ma lắm, ma quỷ tụ tập thành bầy thành lũ, chúng chết do yêu tinh dẫn đường đưa lối, hoặc do tai nạn từ đường trên, đổ đèo mà chết hóa thành ma quỷ. Ông Khanh bình thường không có tin, nhưng cái âm thanh vừa rồi dọa cho ông sợ mất mật, trong đầu ông tự động vang lên câu hỏi, không lẽ là có ma thật?

Ông Khanh cố nén sợ hãi, đanh giọng quát lớn để át đi cái sợ:

– Ai đấy? Đứa nào đấy?

Dưới vực không có âm thanh đáp lại, chỉ có tiếng im lặng của núi rừng, tiếng côn trùng kêu và di chuyển lách tách qua những khóm lá, tạo nên những âm thanh sột soạt và bản hòa âm rợn người.

Ông Khanh quát đến mấy lượt mà đều không có âm thanh đáp lại, ông phải cố gằn lòng lắm mới dám tiếp tục nhìn chằm chằm vô cái dây. Nhưng ông chợt cứng họng, vì cái nút thắt cổ chai khó nhằn không ngờ đã được gỡ từ lúc nào. Qua cái nút thắt cổ chai ấy, thì những nút thắt còn lại đều dễ dàng an toàn tháo được.

Nghĩ đoạn có cảm giác hơi khó hiểu, nhưng ông Khanh vẫn dùng tay, nhanh thoăn thoắt gỡ mảnh dây thừng xuống. Rồi bắt tay bám vô vách đá, kiên nhẫn leo dần dần xuống vực.

Mặc dù có đôi chút cảm giác sợ hãi, nhưng giấc mộng giàu sang vẫn ảnh hưởng quá lớn, thôi thúc ông Khanh bất chấp tất cả mà xông về phía đáy vực Tà Xùa…

Chân ông Khanh đáp xuống tới mặt đất, đáy vực lổn nhổn nhấp nhô toàn là đá. Bàn chân ông va chạm vào lớp đá vụn, tạo ra tiếp xúc với mặt đá vang lên những thanh âm lộp rộp.

Một quang cảnh âm u tối đen như mực, xa xa là thứ ánh sáng le lói của nửa vầng trăng khuyết chiếu rọi. Trong thứ ánh sáng nhá nhem, từng bụi cây um tùm che khuất tầm nhìn. Ở trên miệng vực thì đã cách nơi đáy xa quá. Mặc dù ông Khanh đã dỏng tai cố lắng nghe thật kĩ, mà cũng chẳng thể nghe được tiếng động gì.

Đang cảm thấy có chút lạc lõng vì vừa mới đặt chân tới đây, thì ngay lập tức sống lưng ông lại gai lạnh. Dường như có một thứ gì đó vừa lướt vụt qua phía bên phải ông, như một bóng ma vậy.

Một giọng cười khúc khích, cũng không phải, lại giống như một thứ âm thanh của tiếng lá cây do gió thổi.

Ông Khanh cố hít sâu cho thật can đảm, rồi nhanh tay cầm lấy cái đèn pin rọi vô phía trước mặt, bắt đầu mò mẫm từng bước một. Thò con dao gạt phay đám lá cây bui che khuất tầm mắt. Chân ông bước đều, thi thoảng lại giẫm hụt đến rầm cái vào một cái hố ổ gà ổ voi sâu hoắm nào đó. Ông Khanh chao đảo, cố định thần lại cho thần vững rồi bắt đầu men theo cái lối đi thẳng tự định hình mà truy tìm cây liễu cổ.

Trên miệng vực Tà Xùa, ông Dương đang đắc đắc ý dò đài đi lại cho thật rõ cái âm thanh vừa mới bắt được trong radio, cho thật mượt mà sắc nét.

Nhưng càng dò ông càng cau mày, vì rõ ràng vừa rồi còn nghe thấy âm thanh ở đúng cái tần số ấy, mà giờ chỉnh đi chỉnh lại thì lại thất mất tiêu.

Nụ cười trên môi ông Dương tắt ngấm. Chợt ông nom tới hai sợi dây thừng buộc ở thanh xà lan ven đường thì liền hoảng hồn kêu lên:

– Trời ơi anh Khanh!

Hốt hoảng, ông vội vàng quăng cái đài cát xét qua một bên, rồi phi như bay chạy tới mép vực. Hai sợi dây thừng từ lúc nào đã bị đứt lìa, nhìn qua đèn pin rọi xuống thì phát hiện ra những đoạn thừng bị đứt đã lọt thỏm vào khe đá, mắc vào bụi cây mọc ở vách quấn chặt vào đó. Những cái nút quấn chặt ấy chỉ là tạm bợ, nếu ông Khanh mà không biết điều ấy, vẫn cứ leo lên sợi dây thừng. Thì chỉ cần leo được nửa chừng là chỗ đoạn dây mắc vào cành cây sẽ bị tuột ra, đến khi ấy ông Khanh không nghi ngờ gì sẽ bị ngã chết ngay.

Ông Dương lo quá, trong lòng cứ hy vọng là ông anh mình không tìm ra cây liễu kia nhanh đến như thế, rồi vô tình trèo lên sợi dây thừng. Ông Dương bèn cố sức dùng giọng gọi to mà vọng xuống tới vực sâu để cảnh cáo ông Khanh, nhưng vẫn không hề có âm thanh đáp lại.

Ông loay hoay không còn biết cách nào, đành quay đầu chạy như bay về bản, muốn nhờ người đến cứu giúp.

Dọc đường đi ông Dương loay hoay loạng choạng đâm vào bụi cây đến xây sẩm mặt mày đến mấy lần.

Trong miệng ông khục khặc thở dốc, mồ hôi ướt đẫm cả áo. Quần áo thì xộc xệch rách bươm, khi ông Dương vừa mới rời khỏi, thì từ cái đài cát xét rơi dưới đất vang lên một tràng âm thanh quái dị.

Tiếng radio xèo xèo dần có nhịp điệu và mơ hồ như một loại âm thanh cười khúc khích chói tai, vang rợn xuống tới tận vách đá, vọng tới tận dưới vực.

Ông Khanh đang gạt mớ cây cỏ chắn đường để mò mẫm bước, chợt cũng nghe thấy tiếng cười quái dị ấy. Tiếng radio phát xuống đến đây đã không còn quá rõ là tiếng cười, mà chỉ còn là âm thanh u u kì quái. Dẫu vậy chỉ với cái âm thanh ấy thôi, là cũng đã đủ là cho ông Khanh phải khụy gối, sởn ra gà. Trời đêm hoang vu lạnh lẽo, rừng cây ùm tùm bủa vây ở đây, cộng thêm loại âm thanh ấy nữa thì cho dù là người có gan dạ đến đâu cũng phải sợ són đái ra quần.

Ông Khanh định thần lại, ngưng tay gạt cành, cố gắng lắng nghe xem cái thứ âm thanh quái dị vừa mới phát ra là thứ gì. Nhưng nghe mãi mà ông chẳng thấy nó giống tiếng gì mà ông đã từng nghe từng biết cả. Rồi đột nhiên âm thanh chợt im bặt, ông Khanh dỏng tai lắng nghe thật kĩ nhưng cũng không nghe thấy gì nữa.

Ông thở dài, tiếp bước. Cánh tay ông gạt một mớ cây bụi um tùm, hở ra một mảnh đất rộng kéo dài ra tận đằng xa. Vừa mới gạt cái mớ cây bụi ấy ra, thì ngay lập tức ông đã giật mình kinh sợ ú ớ, vì cách ông chỉ độ chừng chục mét mà thôi, là một dáng người hết sức quen thuộc xuất hiện. Người đó chính là ông Dương, em trai ông…

– Dương, em…

Ông Khanh ú ớ không nói được tiếp nữa, vì rõ ràng là ông Dương ở trên miệng vực, mà như thế nào giờ lại xuất hiện ở đây. Ông Khanh xuống đây trước cả chục phút, dọc một đường đi ông chỉ có đi thẳng. Ông Khanh cho dù có vắt chân lên cổ mà chạy, rồi hì hục leo nhanh thoăn thoắt đi chăng nữa thì cũng chẳng thể nào có mặt ở đây vào lúc này.

Cái bóng người kia quay lưng về phía ông Khanh, tuy không nhìn rõ đó là ai. Nhưng nhìn về dáng người và bộ quần áo, thì ông Khanh nhận định ngay, đó chính xác chính là ông Dương rồi.

Mặc kệ ông Khanh ú ớ như thế nào, nhưng bóng người kia không hề quay đầu lại, cũng không hề đáp lại trả lời.

Ông Khanh thoáng định thần lại, gạt mấy giọt mồ hôi lấm tấm trên trán, lấy hết can đảm bước về phía người kia. Cái đen pin của ông chiếu rọi, cố sức căng mắt ra mà nhìn cho thật kĩ. Càng đến gần thì ông càng khẳng định chắc chắn rằng cái dáng người kia không ai khác chính là ông Dương. Bởi ông Dương hồi nhỏ đi rừng có bị rắn độc cắn, phải chặt cụt mất một ngón tay trỏ ở bên phái. Mà cái người đứng trước mắt, ngoài bộ quần áo, chiều cao, mái tóc giống hệt, thì cái ngón tay trỏ cũng đã bị cụt không sai vào đâu được.

Ông Khanh chớp chớp mắt mấy lần, càng tiến đến gần, gần hơn nữa. Rồi chợt mắt ông hoa lên một chặp, ông cố nheo mắt lại, thì lại thấy hóa ra cái dáng người đứng yên khi nãy lại chỉ là một cái lùm cây.

Ông Khanh thở phào một trận, tự chửi rủa, thì ra là ông nhìn gà hóa quốc. Là cái bụi cây mà từ xa ông cứ ngỡ là ông Dương mới đúng. Nhưng cái hình ảnh bộ quần áo, mái tóc, ngón tay cụt tại sao ông lại có cảm giác rõ ràng và chân thật đến như thế?

Ông Khanh lắc đầu, rồi lại tiếp tục bước đi trên hành trình tìm kiếm cây liễu cổ. Dọc đường đi không ít lần ông bị giật mình vì những hình ảnh quái dị, bóng ông Dương, bà cụ, rồi đứa con gái của ông cứ lần lượt xuất hiện khiến ông nhiều phen hoảng hồn. Lòng dạ ông cứ mỗi chốc lại nóng như lửa, ruột gan cồn cào, bồn chồn không yên.

Ông Khanh cứ trong tình trạng phập phồng như thế mãi đến tận một giờ đồng hồ sau, thì cái khoảng đất thi thoảng xen kẽ cây bụi mới hết. Thay vào đó là việc trước mắt ông xuất hiện một mảnh đất rộng lớn kéo dài, mảnh đất này không hề có bất cứ thứ gì mọc lên, ngoại trừ một thân cây khổng lồ to lớn cỡ chục người ôm đang mọc sừng sững ở đấy. Cả bầu trời ở đây bị mây đen che phủ, gió không hề thổi qua đây. Cây cỏ không hề mọc. Thứ ánh sáng duy nhất phát ra từ chiếc đèn pin mà ông Khanh mang theo, chiếu rọi có thể nhìn thấy cả khu vực này.

Ông thoáng mừng rỡ, bước lại ngày càng gần về phía cây liễu, thì chợt ông có cảm giác khó thở như có cái dây thòng lọng luồn sâu vô cổ. Ông giật mình kinh hãi lùi lại thì cái cảm giác ấy lại biến mất. Ông sờ sờ lên cổ định thần lại, cái cảm giác dây thòng lọng thít cổ rõ thật là vẫn còn quanh quẩn đâu đấy.

Ông Khanh nheo mắt, nhìn về phía cây liễu, quan sát cái tán lá khổng lồ um tùm của nó. Liền nhận ra một sự thật không tưởng, cây liễu này không ngờ rằng lá của nó lại không có màu xanh, mà xen lẫn toàn một màu đen và một màu đỏ hết sức quái dị.

Lá cây đung đưa nặng chĩu, thi thoảng một vài cành liễu rủ xuống còn rung lên bần bật như là có người ngồi trên cành, khuất sau những tán lá đá nhún nhảy, khiến cho cành cây rung lên như có gió thổi mạnh.

Ông Dương gạt mồ hồi, sợ hãi cố nuốt ngược lại. Rồi tự lẩm bẩm:

– Được rồi, việc quan trọng là đã xác định được cây liễu này có thật rồi. Giờ phải quay lại gọi chú Dương xuống đây thôi…

Nghĩ đoạn, ông Khanh thoáng quay đầu, nhanh thoăn thoắt quay trở lại hướng vách đá, để leo lên trên ấy báo tin cho ông Dương.

Trong khoảng cả giờ đồng hồ mà ông Khanh loay hoay dưới vực khi ấy, thì ông Dương cũng đã kịp về bản, báo tin hết lượt cho người trong bản biết việc ông Khanh gặp nguy. Việc ấy đánh động hết cả dân bản đều thức dậy, ngay cả bà cụ mẹ ông Khanh cũng biết tin.

Bà cụ hì hụi theo đoàn người ngay trong đêm đi thẳng đến vực Tà Xùa để cứu con.

Đèn đuốc đốt sáng trưng khắp bản, đám chó sủa loạn râm ran. Trẻ con trong bản đang ngủ say đều thức dậy khóc ré lên vì thứ âm thanh quá ồn ào.

Đám thanh niên bản hò reo, người già trẻ con ở nhà, chỉ có đàn ông khỏe mạnh là được đi theo ông Dương để cứu người. Bà cụ mẹ ông Khanh mới đồng còn không được mọi người đồng ý cho đi, nhưng sau bà cứ nhất quyết đòi đi nên mọi người cũng đành phải chịu, không thể làm khác được.

Trên đường đi đến vực Tà Xùa, dân bản tràn xuống đường quốc lộ chặn đứng một đoạn đường. Cứ diễu thành đoàn mà đi thẳng, thi thoảng lại gặp chiếc xe tải phải dừng một chốc cho đoàn người đi qua thì mới có thể đi tiếp.

Tới miệng vực Tà Xùa, cái đài radio vẫn còn đang phát ra âm thanh xèo xèo ở dưới đất. Ông Dương chạy đến nhặt lại cái đài đút vô túi vải đeo trên người, rồi đảo mắt nhìn xuống dưới cái mép vực. Quái lạ thay, cái dây thừng lúc nãy đứt lìa mắc ở khe đá, vậy mà giờ đây lại có thể mắc lại ngay ngắn như trước đó nó chưa từng đứt vậy.

Bà cụ mon men tới miệng vực, theo kinh nghiệm của người già cả, bà cụ vừa nhìn vào sợi dây đã như đoán được điều gì. Bà cụ nói to:

– Đứa nào còn là đồng nam thì giải một bãi vào cái dây thừng này cho tao xem nào!

Bà cụ vừa nói xong, đã có vài thanh niên bản xung phong chạy tới, tiểu vào đúng chỗ hai cái sợi dây vắt vẻo gần cái xà lan sát miệng vực.

Nước tiểu vừa rớt xuống, thình lình cái sợi dây liền chuyển sang màu đen kịt, đôi chỗ có dấu vết như là ngón tay, bàn tay bám vào.

Ngay tức khắc toàn bộ đoàn người nhìn thấy cảnh tượng ấy, ai nấy đều xanh mặt. Ông Dương chạy đến gần bà cụ vội hỏi:

– Như thế là sao hả mẹ?

Bà cụ thở thều thào nói:

– Tao đã gàn rồi mà nó đâu có chịu nghe, chúng mày đi đến chỗ cái cây Liễu ấy thì ra cớ sự này cũng không có gì là lạ rồi!
Bà cụ dừng một chút rồi trỏ tay vào cái dây thừng nói tiếp:

– Cái dấu vết bàn tay kia là của ma nó vắt lên, chứ người nào có thể vắt lại được sợi dây ấy. Xưa nay quỷ che mắt, ma đưa đường đều trông có vẻ bình thường, nhưng gặp nước tiểu là biết ngay có phải cái giống ấy làm thật hay không. Nhìn cái sợi dây này, thì e là anh mày ở dưới kia gặp chuyện chẳng lành rồi.

Ông Dương vã mồ hôi nói:

– Vậy giờ thì phải làm sao thưa mẹ?

Bà cụ nói:

– Giờ thì tất cả đều phải xuống dưới ấy, người đông thì may ra át được khí âm. Nếu tìm ra nhanh nhanh chóng chóng thì còn có thể giữ cho thằng Khanh toàn mạng, bằng không thì chỉ có thể lượm xác nó về mà thôi…

Ông Dương nghe xong, chân tay đã run tới mức không còn có thể kiềm chế được nữa. Ông vội gọi mấy thanh niên bản hối gấp bọn họ nhanh chóng thả thừng xuống dưới rồi trèo xuống vực để tìm anh. Cả đoàn người tin theo lời bà cụ, hối hả thay phiên nhau trèo xuống dưới đáy vực.

Bà cụ đứng ở trên miệng vực căn dặn mọi người thật kĩ:

– Khi xuống tới nơi, thì mọi người phải đi sát vào nhau, không ai được tách ra. Nếu bị tách ra thì phải tri hô lên mà gọi ngay, bằng không sẽ rất nguy hiểm, bị quỷ che mắt, ma đưa lối. Trời vừa sáng nếu không tìm được thì thôi phải về ngay, nếu không thì sẽ bị ma quỷ dở trò lường gạt vào động quỷ của chúng mà không thể về được nữa.

Bà cụ còn căn dặn thật kĩ, nếu chỗ nào vắng người mà đột nhiên thấy có người con gái xuất hiện. Thì phải nghi ngay đấy là liễu quỷ, và cố gắng tránh đường vòng đừng để nó phát hiện ra. Nếu không một khi để nó phát hiện ra, nó sẽ biến mất, rồi hóa thành người giống như trong đoàn mà trà trộn vào đoàn người để lừa lọc từng người một, rồi đem ra chỗ vắng để giết.

Mọi người vâng vâng dạ dạ đều nghe lời bà cụ rất kĩ. Một vài người được phân công kĩ lưỡng là chờ trực ở trên miệng vực để trông chừng cái dây. Bà cụ cũng đứng ở trên miệng vực mà chờ đợi tin của ông Khanh. Bà năm nay đã già, đã không còn đủ sức để đi theo đoàn người xuống dưới vực nữa rồi.

Ông Dương dẫn đầu đoàn người, vừa trượt xuống đáy vực là đã bắt gặp khung cảnh u ám rợn người. Từng đoàn từng đoàn đốm lửa ma trơi lập lòe như vẫy gọi. Có tiếng gió xì xào bên những lùm cây tạo nên thứ âm thanh như các anh linh ma quỷ đang nói chuyện. Đám thanh niên bản mới đầu còn ai nấy hừng hực khí thế, thế nhưng giờ này đều đã run rẩy như cầy sấy vậy.

Một người thanh niên hối hả chạy đến gần ông Dương với khuôn mặt xám như tro thì thào vào tai ông:

– Chú Dương, hình như vừa rồi cháu có nghe thấy tiếng chú Khanh thì phải!

Ông Dương đang khẩn trương, liền vui sướng vội hỏi:

– Ở đâu?
Người thanh niên ấy nói:

– Dạ ở ngay trên vách núi, mà cháu vừa mới trèo xuống có thấy ai đâu. Nhưng lúc rồi rõ ràng cháu nghe thấy tiếng chú ấy gọi văng vẳng ở vách núi. Chú ấy còn gọi tên cháu rõ ràng mà lại…

Ông Dương gàn ngay:

– Vớ vẩn, mày lại thần hồn nát thần tính. Cả đoàn xuống có thấy cái gì đâu, chưa đi được mấy bước mà đã bị ma nó nhát đến vãi cả ra quần rồi thì còn làm ăn gì. Sợ ma hả?

Người thanh niên bị ông Dương quát nạt cho một chặp, liền như bị nói trúng tim đen, vã mồ hôi. Có điều, để cho đỡ ngượng anh ta vẫn đứng thẳng người lên vỗ ngực nói:

– Làm gì có chuyện ấy thưa chú. Chắc là vừa rồi cháu nghe nhầm, cháu sẽ chú ý hơn…

Ông Dương gật đầu nói:

– Thôi được rồi, nghe nhầm cũng là việc thường, đến tao vừa tụt xuống dưới này mà cũng đã muốn đu dây trèo lên ngay rồi, huống chi là đám thanh niên rơm chúng mày. Thôi, đi nhanh nhanh mà tìm ông anh tao về, kẻo trời sáng lại không về nổi đâu.

Ông Dương nói xong, hối hả tiếp bước gạt cái lùm cây, tiếng lá cây loạt xoạt, đôi lúc gió thổi thoảng qua khiến lá cây xà vào khuôn mặt như một bàn tay ai đó đang vuốt ve mặt người vậy.

Đoàn thanh niên theo sau ông dương có cả thảy hơn chục người, chính xác là mười bốn người, tính cả ông Dương là tròn mười lăm người tham gia vào hành trình giải cứu ông Khanh. Ông Dương lớn tuổi nhất, đều đã có vợ con, còn đám thanh niên này đều mới nứt mắt mới lớn. Chưa vợ con gì cả, thậm chí là người yêu cũng không có. Đám thanh niên mới đầu còn run sợ lắm. Thế nhưng càng về sau đi càng lâu dần sâu vào trong thung lũng đáy vực. Bọn họ người đông át cái sợ lại bắt đầu táo tợn trêu đùa nhau. Nghe bà cụ kể liễu quỷ hóa thành một người con gái thì ai nấy cũng đều vui vẻ lắm. Bình sinh bọn họ hiếm khi được tiếp xúc với con gái trẻ, vì lạ thay bản của bọn họ sinh ra phần lớn toàn là con trai. Con trai muốn kiếm vợ đều phải sang bản khác để tìm hiểu.

Bọn họ lại nghe nói cái giống yêu tinh hóa hình người là xinh đẹp lắm. Có người còn cho rằng dẫu một lần trong đời được gần gũi với yêu tinh thì thôi chết cũng được.

Những câu chuyện vui đùa ấy thôi thì cũng chỉ là bên lề. Thế nhưng về sau này không ngờ lời nói đùa ấy lại ứng nghiệm thành một sự thực. Chính cái anh thanh niên mà phát ngôn ra những lời nói ấy, lại là người đầu tiên phát hiện ra liễu quỷ.

Đoàn người đi đã lâu nên thấm mệt, một vài người tách ra đến ven suối để lấy nước. Trong những người ấy, có cả cậu thanh niên kia, ban đầu mặt suối vắng vẻ không có gì. Nhưng sau cùng nhóm bốn người đi lấy nước cho cả đoàn đột nhiên bị một trận gió thổi mạnh khiến bụi tung mù, lá cây đập vào mặt mũi mấy người tung bay khắp nơi.

Lúc sau khi ngọn gió ấy ngừng thổi, thì cậu thanh niên kia cũng đã không còn thấy đâu nữa. Người ta chỉ còn thấy bộ quần áo của anh ta bị rách tả tơi vương vãi trên mặt đất. Có người nhìn thấy xa xa bên kia suối, phía sau lùm bụi cây gai có bóng lưng người con gái nhấp nhô, thoắt ẩn thoắt hiện.

Khi ba người bọn họ về báo tin cho đoàn người, và quay trở lại tìm thì tại chỗ lùm cây ấy thì chỉ thấy có hai chiếc dép của chàng thanh niên kia, và một mớ rễ cây toàn bụi đất. Còn người thì lại chẳng thấy đâu…

Cả đoàn người cứ tìm mãi một chốc mà chẳng thấy gì, sau cùng đành bỏ cuộc. Lại căn dặn nhau kĩ hơn là từ giờ càng phải cẩn trọng. Bởi vì liễu quỷ có thể đã thực sự xuất hiện.

Đoàn người tiếp tục hành trình tìm kiếm ông Khanh, cho đến gần sáng mà không hề kiếm thêm được một chút tin tức nào. Bọn họ đành quyết định từ bỏ. Tất cả định quay đầu trở về…

Đúng khi ấy, bọn họ lại vô tình bị lạc vào một mảnh đất kéo dài, trơ chọi toàn sỏi đá không có bất cứ thứ gì mọc lên. Ở giữa khu đất ấy xuất hiện một cây liễu rất lớn, lá của nó màu đen màu đỏ xen lẫn.

Cả đoàn người ngơ ngác nhìn nhau, ú ớ không nói được câu nào…

Trong mắt ông Dương lúc này, chợt thoắt hiện lên vẻ tính toán. Ông nhìn đằng đẵng vô cái cây liễu to lớn mà liếm mép. Ông chợt quyết định, nếu như đã không tìm được ông Khanh, thôi thì cái cây liễu này cũng phải chặt để kiếm lấy món lời.

Dọc đường vì lý do phòng thân, nên thứ đồ nghề để chặt cây ông mang không sót món nào.

Mới đầu thì ông ta còn lo lắng cho người anh trai của mình, nhưng càng về sau, lòng tham của ông lại càng lớn, lại nghiêng về việc chặt liễu nhiều hơn.

Vì vậy, trên đường đi, ông Dương đã không ít lần bơm cái tư tưởng chặt liễu về đem bán cho đám thanh niên. Đám thanh niên khi ấy không quan tâm đến tiền nhiều lắm, nhưng ông Dương lại bơm rằng nếu mỗi người sở hữu một miếng gỗ liễu, thì sau này về hay mơ thấy gái đẹp. Lại còn lấy được vợ đẹp vì hưởng phúc âm ké nữa.

Những lời nói lừa lọc ấy, nhanh chóng làm lu mờ đi những lời cảnh cáo của bà cụ.

Ngay khi tất cả đều chán nản muốn quay về, thì cái cây liễu này lại như ma xui quỷ khiến thế nào, lại xuất hiện ở ngay trước mặt bọn họ.

Đoàn người vui vẻ lắm, ông Dương trước tiên chọc cái con dao nhọn đâm xuống dưới mặt đất dõng dạc hô to nói:

– Chặt nó, vì sự nghiệp làm giàu của bản ta… Vì sự trả thù cho ông anh trai tao và bạn của chúng mày!

Đám thanh niên hô to hưởng ứng:

– Chặt nó, làm giàu, báo thù…

Xen lẫn trong những âm thanh đồng thanh hô to đầy khí thế, còn thi thoảng chen thêm một vài câu nói khe khẽ:

– Vì lấy được vợ đẹp…

Đám người hùng hổ, tay dao tay búa phăm phăm lao về phía cái cây. Cành cây liễu toàn lá đen đỏ thì rung rung lên như muốn mời gọi một cách đầy thích thú.

Ông Dương hùng hổ lao tới trước, cả đoàn người bước càng gần cái cây liễu thì càng cảm thấy hơi ngột ngạt khó thở. Nhưng suy cho cùng ai nấy đều không sợ chết.

Những nhát dao búa đầu tiên được bổ xuống, vang lên những âm thanh lục bục như chặt vào da thịt. Nhựa cây nhờn nhờn phun ra một màu đỏ tươi. Lá cây xào xạc đung đưa tạo thành những âm thanh như tiếng người con gái khóc thút thít vậy.

Trở lại việc ông Khanh.

Sau khi ông phát hiện ra cây liễu cổ ấy, liền lập tức quay trở về bản ngay, dọc đường đi ông không hề gặp phải bất cứ thứ gì lạ lùng. Cho đến khi quay trở lại vách đá, ông Khanh có thể nhìn thấy ngay được sợ dây thừng mà bị vắt vẻo ở vách đã từ lúc nào được nối liền chặt. Nó được buộc ngược trở lại bên trên, sợi dây thừng chắc nịch như chưa từng bị tuột.

Lưu tiên sinh toát mồ hôi muốn vãi ra quần, Đào tiên sinh còn chưa tới, nếu một mình ông ta mà chống chọi với con cương thi này thì chỉ có thể cầm chắc cái chết mà thôi.

Lưu tiên sinh chợt nom lại thanh kiếm gỗ đào trong tay, rồi lại nói:

– Không đúng!

Ông ta cảm thấy hết sức kỳ quái, liền đem lưỡi liếm lên thử thanh kiếm gỗ đào rồi càng tái mặt nói:

– Có người đã thi hành pháp thuật, gọi cương thi đi cả trong ban ngày! Là ai?

Lưu tiên sinh hét lên hỏi như vậy, ông Khanh không hiểu liền hỏi:

– Không phải ông nói cương thi chỉ có thể đi vào ban đêm sao, cho dù là có người làm phép thì cũng làm sao khiến nó đi vào ban ngày được, đi vào ban ngày thì cương thi sẽ bị lửa mặt trời thiêu rụi!

Lưu tiên sinh lắc đầu thở dài nói:

– Ông thực sự không hiểu, kẻ này thật là một tên đại sĩ lỗ ban tông thuật cao tay lắm. Hắn biết được cả vị trí cương thi đang ở từ xa ngàn dặm. Biết cả địa hình mà nó đi qua nên đã khiển cho nó chui vào rừng tối để tránh nắng. Như vậy cương thi có thể đi được vào ban ngày…

Lưu tiên sinh đang nói như thanh minh, thì chợt xững người lại, ông ta quát lên:

– Thôi xong tôi rồi!

Rồi ông ta vội vã chui xuống dưới tế đàn, chới với chạy đến cái cỗ áo quan bằng sắt. Bốn lá bùa vẫn được dán kín như bưng, thế nhưng Lưu tiên sinh không an tâm, liền gồng sức mở nắp quan tài ra.

Khi nắp quan tài vừa được mở ra, Lưu tiên sinh liền không kìm được mà phát ra tiếng “Ôi!”

Mọi người liền chạy lại vây quanh cái quan tài sắt, thì đều lắc đầu lè lưỡi không tin nổi. Vì cái xác liễu quỷ mấy ngày trước còn khô héo quắt, ấy vậy mà bây giờ đã trở nên hồng nhuận căng mọng da thịt như người sống.

Lưu tiên sinh căng giọng thì thào nói:

– Có kẻ… có kẻ đã dùng máu để nó hồi sinh!

Grao!

Đúng lúc này, chỉ cách chỗ tế đàn khoảng chừng vài cây số. Con cương thi đã rú tợn kêu lên những âm thanh kinh khủng rợn người.

Mọi người đều sợ hãi bao quanh lấy Lưu tiên sinh bám lấy thân người ông ta muốn chờ mong ông ta cứu mạng. Ông ta cố kìm nén sự sợ hãi, nghĩ ngợi một lúc rồi nói:

– Sư phụ tôi sắp đến đây rồi, cố cầm cự cho đến khi ông ta đến được đây thì tất cả đều được sống! Ông ta sẽ cảm nhận được mùi tử khí cương thi mà chạy đến đây nên không cần phải ra chỉ đường!

Lưu tiên sinh nói xong, liền nhảy bật đứng dậy lao lên tế đàn. Đem một đám hạt gạo nếp rắc xung quanh tế đàn, rồi cắt tiết gà cho chảy vào miệng phun vào hai hình nộm vàng mã Trương phi Quan công. Ông ta nói:

– Mọi người đều không được rời khỏi cái tế đàn này, gạo nếp sẽ khiến cương thi tạm thời không thể đi vào. Tôi đi ra ngoài liều mạng với nó!

Lưu tiên sinh nói xong liền nhảy ra khỏi cái tế đàn, nhanh thoăn thoắt biến mất vào màn đêm. Hai cái hình nộm Quan công Trương phi cũng đột nhiên cử động rồi chạy theo ông ta.

Mọi người lúc này không biết bên ngoài kia chuyện gì đang xảy ra, chỉ nghe tiếng gào thét của Lưu tiên sinh. Bọn họ ôm nhau run rẩy như cầy sấy mong cho chuyện này chóng qua.

Nhưng đúng là người tính không bằng trời tính, Lưu tiên sinh kia thất bại, ông ta toàn thân bê bết máu chạy quay ngược trở lại tế đàn thở dốc. Miệng ông ta trào ra máu, ông ta nhảy vào tế đàn rồi gọi Thương đến gần và nói:

– Ta sẽ truyền cho cô nghệ của lỗ ban tông thuật, cô học tạm một vài phép để cố gắng cầm cự bảo vệ mọi người. Đây, kiếm đây, cô cầm lấy đi rồi ta chỉ, đây là kiếm sắt thật chứ không phải là kiếm gỗ, cẩn thận không lại bị thương ngược.

Lưu tiên sinh đưa thanh kiếm sắt cho Thương mà không hề nghi ngờ gì. Thương tỏ vẻ non nớt đỡ lấy thanh kiếm, nhưng khi Lưu tiên sinh vừa mới đứng dậy, quay đầu định làm thế mẫu chỉ dạy cho Thương. Thì khóe mắt cô chợt hiện lên một vẻ tàn độc…

Cái thanh kiếm sắt nhanh thoăn thoắt từ trong tay Thương bổ xuống, chém ngọt qua cổ Lưu tiên sinh, khiến đầu ông ta rụng xuống khỏi cổ, lăn lông lốc xuống khỏi tế đàn. Lưu tiên sinh có khuôn mặt trợn trừng, hai mắt mở to dường như không tin nổi là cô sẽ là như vậy.

Ông Khanh gào lên:

– Thương, tại sao mày lại làm thế?

Thương cười khanh khách không nói gì, cô chỉ liếm mép với dáng vẻ đầy thú tính, chậm rãi bước ra mép tế đàn, quẹt một đường chân xóa nhòa đi cái vòng tròn gạo nếp.

Khuất ở phía xa xa, một cái bóng đen lùi lũi tởm lợm từ trong lùm cây đang nhảy chồm về phía này xuất hiện. Da mặt nó nhăn nheo, đôi bàn tay duỗi thẳng về phía trước với móng tay rất dài. Hai hàm răng nó có những cái răng nanh chìa ra đang nhỏ máu. Nó… chính là con cương thi từ hàng thế kỉ trước…

Ông Khanh biết lúc này mọi chuyện đã không ổn, ông gào lên:

– Mọi người, chạy cả đi, chỗ này không còn an toàn nữa rồi!

Ba người còn lại nghe ông Khanh nói như vậy, liền như ý thức được, liền hoảng sợ nhanh chóng chạy ra khỏi cái vòng tròn tế đàn, mỗi người chạy về một hướng.

Nhưng con cương thi nhanh thoăn thoắt, cả ba người ấy chỉ chạy được chưa đầy nửa phút. Thì đều đã phát ra những âm thanh gào rú kinh khủng, cổ họng của họ như bị một thứ gì đó luồn sâu vào bóp nghẹt. Con cương thi đã giết họ chỉ trong vòng vài giây ngắn ngủi.

Ông Khanh như tuyệt vọng, ông quỳ sụp xuống, sợ hãi nhìn Thương với nước mắt chảy ròng ròng. Ông hỏi:

– Thương, tại sao mày lại làm như vậy?

Thương không trả lời, mà chỉ cười khanh khách. Ông Khanh thở dài, biết số mình đã tận, liền nhắm mắt nói:

– Được rồi, vậy thì mày hãy để cho tao đi theo chú Dương, đi theo bà mày đi…

Ông Khanh cúi đầu định chờ chết, thì đúng lúc này một giọng nói vang lên:

– Ông thắc mắc tại sao ư, vì nó không còn phải là con gái của ông nữa, mà nó chính là liễu quỷ.

Ông Khanh mở mắt ra, thì đã thấy tự lúc nào trên tế đàn có một ông già râu tóc bạc phơ, đang cầm kiếm gỗ cười nói. Ông Khanh liền hỏi:

– Ông là ai?

Ông già kia trả lời:

– Tôi là chính là sư phụ của cái thằng độ đệ dốt nát kia!

Ông Khanh mừng rỡ nói:

– Ông chính là Đào tiên sinh, ông biết tiếng Việt ư?

Không giống như Lưu tiên sinh, nói chuyện với ông Khanh toàn phải có một cô gái phiên dịch, mà Đào tiên sinh này là sư phụ của ông ta lại có thể nói tiếng Việt sõi đến như vậy.

Đào tiên sinh gật đầu nói:

– Phải, tôi họ Đào. Năm xưa tôi có mặt trong quân giải phóng, cũng từng có một thời ở Việt Nam nên khá hiểu tiếng Việt…

Đào tiên sinh vuốt râu, không tiếp tục nói, mà chợt hành động rất mau lẹ. Ông ta vung tay lên liền đem cả tế đàn đánh sập. Vung tay một cái nữa lại chọc vào cái xác liễu quỷ nằm trong áo quan. Cái xác liền kêu ré lên trợn trừng mắt, rồi bốc lửa cháy ngùn ngụt. Cái xác vừa cháy Thương liền lập tức ngất đi như vừa được hóa giải vậy.

Đào tiên sinh, vung kiếm một nhát nữa, đem cái xác ném về phía con cương thi. Con cương thi dường như cảm thấy hoảng sợ, nó quay đầu bỏ chạy nhưng không kịp. Cái xác liễu quỷ dính vào người nó, bén lửa lây sang nó. Cương thi lập tức bị một mồi lửa vây lấy gào rú hết sức thảm thiết. Nó giãy giụa trong tuyệt vọng… Thêm một lúc nữa thì cả xác nó lẫn cái xác liễu quỷ đều cháy ra tro.

Thương ngất một lúc liền mau chóng tỉnh lại, cô nhìn thấy ông Khanh ngã gục dưới đất liền chạy đến đỡ ông ôm ông gào khóc nói:

– Bố, vừa rồi con không kiềm chế được mình, con đã giết người rồi!

Ông Khanh cũng ôm Thương khóc mà không nói gì.

Còn Đào tiên sinh thu kiếm lại, giảng giải:

– Đó là liễu quỷ, không phải cô! Cô đã có nghiệp với phái lỗ ban ta, thì từ giờ phải theo ta học nghệ để trả nợ. Buông bố cô ra đi, từ giờ cô không còn tư cách để gặp ông ta nữa.

Nghe Đào tiên sinh nói như vậy, Thương gật đầu, dứt khoát buông ông Khanh ra. Rồi lặng lẽ đến đứng bên cạnh Đào tiên sinh.

Đào tiên sinh lại nhìn ông Khanh rồi nói tiếp:

– Ông cũng đã hết nợ rồi, nợ của ông là nghiệp nợ tham lam. Nhưng đã phải trả bằng nhiều nỗi dằn vặt, từ nay ông có thể hưởng cuộc sống sung túc.

Đào tiên sinh trỏ vào cái cây liễu rồi nói tiếp:

– Tôi biết gỗ có giá, cũng vì nó mà ông phạm ác nghiệp. Vậy tôi cho ông chặt nó đi bán kiếm tiền, từ nay cứ vậy an hưởng tuổi già rồi đừng nghĩ chi nữa…

Nói xong Đào tiên sinh quay đầu đi thẳng, dắt Thương đi cùng biến mất vào màn đêm.

Từ đó, Thương vĩnh viễn không quay trở lại, ông Khanh cũng không biết tin tức của cô. Nhưng ông cũng nghe lời Đào tiên sinh, chặt thân cây liễu đem đi bán, nên cũng có một khoản tiền sung túc và giàu có. Ông Khanh ở vậy thêm một năm thì lấy vợ kế. Vợ kế của ông cứ nghĩ ông già nên có lẽ không có con, nhưng trời thương tình. Lúc xế muộn vợ kế của ông thật kỳ diệu lại đậu kỳ thai. Ông Khanh may mắn lại có một đứa con để nối dõi tông đường.

Hết

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here