Nếu bạn gặp được 6 kiểu người này, đừng để lỡ kết thâm giao với họ

Tự bản thân phải trở thành người đáng để người khác kết giao, bạn mới có thể kết giao được nhiều người bạn thực sự. Khổng Tử nói: Vô hữu bất như kỷ giả (tạm dịch: Không kết bạn với người không bằng mình). Câu này nguyên có nguồn gốc từ Luận ngữ.

Trong đó, Khổng Tử viết: “Quân tử bất trọng tắc bất uy, học tắc bất cố. Chủ trung tín. Vô hữu bất như kỷ giả. Quá tắc vật đạn cải”, ý nói: Người quân tử nếu không tự trọng thì sẽ không có uy nghiêm, việc nghiên cứu học tập cũng sẽ không vững chắc. Làm người phải lấy trung nghĩa và thành tín làm gốc. Không nên kết bạn với người không bằng mình, nếu có sai sót, khuyết điểm cũng không sợ sửa chữa.

Trước đây, ý tứ của câu nói này thường bị người đời hiểu sai khác đi. Họ cho rằng, kết giao bạn bè là chọn người có địa vị cao hơn để được lợi nhiều hơn. Nhưng kỳ thực, “không kết bạn với người không bằng mình” mà Khổng Tử nói, không có nghĩa rằng phải chọn người có địa vị cao hơn mình, giàu có hơn mình để kết bạn. Khổng Tử là người rất coi trọng tu dưỡng đạo đức cá nhân, cho nên “không bằng mình” mà ý ông muốn nói đến chính là phẩm hạnh đạo đức.

Thủa nhỏ tôi thường nghe bậc cha chú mình nói một câu: Đời người khó có thể kết giao được 2 người bạn thực sự. Khi đó vì tuổi đời còn quá nhỏ nên trong lòng chỉ suy nghĩ rất đơn thuần: Nguyên nhân là bởi họ quen biết giao tiếp với ít người mà thôi.


(Ảnh minh họa: Khổng Tử và môn đệ)

Sau này khi trưởng thành, hiểu hơn một chút những bí quyết trong đối nhân xử thế, mới có thể suy đoán ra họ nói như vậy rất có thể là muốn bày tỏ với đối phương: Bạn là người bạn đáng trân quý! – câu nói nghe rất khách sáo.

Sau khi có nhiều trải nghiệm trong cuộc sống, tôi càng cảm thấy câu nói này thật có lý, con người đều cô đơn, rất khó để thực sự mở được cánh cửa tâm hồn để người khác bước vào.

Điều trước tiên mà bản thân chúng ta nên làm là biến mình trở thành người đáng làm người bạn thâm giao của người khác, như vậy mới càng có nhiều cơ hội kết thân được với nhiều người hơn.

Người như thế nào mới xứng đáng là người để kết bạn thâm giao? Sau đây là một số đúc kết giúp bạn hiểu được thế nào là người có phẩm hạnh đạo đức, là người đáng để kết thành bạn tâm giao.

1. Người vừa có thể đồng cam lại vừa có thể cộng khổ

Đồng cam cộng khổ là câu thành ngữ thường được dùng miêu tả việc bạn bè cùng chia sẻ khó khăn hoạn nạn với nhau. Có một sự khác biệt không giống như chúng ta thường nghĩ đó là “cộng khổ” với nhau thì tương đối dễ dàng hơn “đồng cam”. Nguyên nhân là bởi mọi người đều gặp phải cùng điều kiện hoàn cảnh không tốt như nhau, nên không cộng khổ với nhau cũng không còn cách nào khác.


(Ảnh minh họa)

Còn ngược lại “đồng cam” với nhau có lúc thật sự rất khó thực hiện. Có rất nhiều đôi bạn cùng nhau tạo dựng cơ nghiệp rồi cuối cùng lại phản bội nhau, nguyên nhân không phải vì không thể cùng nhau nếm mật nằm gai, mà là không vượt qua nổi khảo nghiệm về sự phân chia lợi ích khi thành công.

Có thể giữ một tấm lòng bình thản và lý trí khi đối diện với những lợi ích thiết thân với người bạn đã cùng bạn chia sẻ mọi buồn vui, chính là người đáng để kết giao làm bạn.

2. Người không ghen tị với những ưu điểm, lại có thể tha thứ khoan dung cho những khuyết đểm của người khác.

Đó là người có thể thật tâm cảm thấy tự hào về những ưu điểm của bạn, và cũng không ghét bỏ bạn vì những khuyết đểm của bạn ngược lại còn chân thành nhắc nhở để giúp bạn sửa đổi và trở nên tốt đẹp hơn.

3. Người hiếu thuận với cha mẹ có tấm lòng đại nghĩa

Cha mẹ mãi mãi là ân nhân lớn nhất trong cuộc đời chúng ta. Nếu ngay cả đến việc hiếu kính với cha mẹ họ cũng không làm được thì trong thời khắc nguy cấp nhất rất có thể người đó sẽ lén đâm bạn từ phía sau lưng. Người có tấm lòng hiếu thuận là người có thể hiểu thế nào là biết ơn người khác.


(Ảnh minh họa)

4. Chân thành ngay thẳng

Làm người ta nên chọn chính trực ngay thẳng, không nên có tư tâm. Thậm chí có những lúc vì ngay thẳng người đó sẽ đắc tội với bạn, nhưng đó chính là minh chứng trong lòng người đó luôn có chừng mực nguyên tắc rõ ràng. Hôm nay có thể vì thẳng thắn mà họ đắc tội với bạn, ngày mai rất có thể không tiếc bất cứ điều gì vì tình bằng hữu mà bảo vệ bạn.

Khi gặp được người thẳng thắn chân thành này đừng vì vẻ bề ngoại lạnh lùng của họ mà sợ chạy mất, đây chính là người đáng để kết bạn.

5. Tính cách độc lập, nội tâm vững mạnh

Có cá tính riêng vốn có của bản thân mình, không vì thân thế địa vị của đối phương mà thay đổi thái độ.

Người có tính cách này khi ăn cơm với một người ăn mày có thể thật lòng không tỏ thái độ chán ghét; khi ăn cơm với một quan chức với người có địa vị thì bình tĩnh trò truyện không hùa theo hay nịnh hót; khi ở cùng với những người lao động bình thường có thể thật tâm trò chuyện không coi thường họ.

Những người như vậy nếu có một ngày bạn gặp chuyện trở nên nghèo túng hoạn nạn chắc chắn sẽ dơ tay ra nâng đỡ bạn; nếu có một ngày bạn trở nên giàu có phát tài, họ vẫn đứng bên hỗ trợ chỉ ra những điều thiếu sót của bạn. Những người như thế là người chân chính có nội tâm vững vàng, đáng để bạn kết giao làm bằng hữu.

6. Thông minh lanh lợi, không cần nhiều lời

Là người không cần nói quá nhiều lời cũng có thể hiểu được bạn, đây là minh chứng người này có thế giới nhân sinh quan, thế giới quan, giá trị quan gần giống như bạn.

Nếu kết giao với người này, bạn sẽ cảm thấy rất thoải mái, cho dù gặp phải mâu thuẫn cũng nhanh chóng dễ dàng hóa giải.

(Ảnh minh họa)

Cuối cùng, nếu bạn muốn kết giao với những người bạn thật sự đáng để chia sẻ đáng là bạn tâm giao điều đầu tiên bạn nên làm đó là hãy biến mình trở thành người đáng để người khác chọn làm bạn tâm giao.

Kiên Định biên dịch

 

“Vạn lạng hoàng kim còn dễ kiếm

Thế gian tri kỷ thật khó tìm”

  • Thơ Đường của Trần Tử Ngang-

Cha ông ta có câu: “Giàu vì bạn, sang vì vợ”, hay “ Ra đi vừa gặp bạn quen- Cũng bằng tắm trước ao sen trong chùa”,… đủ nói lên giá trị và ý nghĩa của tình bạn.

Nay xin giở sách tinh hoa, kể chuyện người xưa nhắc nhở đời nay, kính mong mọi người thưởng lãm.

 

Phụng Hoàng là vua của các loài chim. Khi ở bể, nó mượn gió to vươn cao lên 9 tầng mây, nhằm phương Nam bay thẳng. Trên đường đi, chim chỉ chọn cây ngô đồng mà đậu. Vua Phục Hy nhìn thấy, biết là điềm lành bèn sai nghệ nhân đốn cây làm đàn. Đoạn trên âm quá cao, đoạn gốc thanh quá trầm, chỉ có thân giữa thì khí nhạc hài hòa, khi trầm, khi bổng, lúc cao, lúc thấp.

Vua Thuấn dùng đàn ấy gảy khúc Nam phong thì thiên hạ thái bình. Khổng Tử cũng dùng đàn ấy để khóc Nhan Hồi. Tiếng đàn chính là tiếng lòng của nghệ sĩ vậy.

***

Thời Xuân Thu Chiến Quốc, có ông Bá Nha họ Du tên Thụy, người ở Sính Đô nước Sở (nay là phủ Kinh Châu, tỉnh Hồ Quảng). Tuy là người nước Sở, nhưng làm quan cho nước Tấn, chức Thượng Đại Phu.

Một lần Bá Nha phụng chỉ vua Tấn đi sứ qua Sính Đô nước Sở, vào triều kiến vua Sở, trình quốc thư và giải bày tình giao hiếu giữa hai nước, được vua Sở và quần thần thiết tiệc khoản đãi. Bá Nha nhân dịp này đi thăm mộ phần tổ tiên, thăm họ hàng, xong vào từ biệt vua Sở trở về nước Tấn.

Trên đường trở về, qua sông Hán Dương, gặp cảnh trăng thanh gió mát, xúc động bồi hồi Bá Nha liền sai quân hầu lấy chiếc lư ra, đốt hương trầm xông cây dao cầm đặt trên án. Cảm thấy hứng thú, muốn dạo chơi một vài khúc đàn, Bá Nha trịnh trọng nâng đàn, so dây vặn trục, đặt hết tâm hồn đàn lên một khúc réo rắt âm thanh, quyện vào khói trầm, chưa dứt, bỗng đàn đứt dây.

Bá Nha giựt mình tự nghĩ, dây đàn bỗng đứt thế nầy ắt có người nghe lén tiếng đàn, bèn sai quân hầu lên bờ tìm xem có ai là người nghe đàn mà không lộ mặt. Quân hầu lãnh lịnh lên bờ thì bỗng có người từ trên bờ lên tiếng:

 

– Xin đại nhân chớ lấy làm lạ, tiểu dân là tiều phu kiếm củi về muộn, trộm nghe được khúc đàn tuyệt diệu của Ngài.

 

Bá Nha cười lớn bảo:

 

– Người tiều phu nào đó dám nói hai tiếng nghe đàn với ta, sao ngông cuồng thế?

 

– Đại nhân nói sai quá vậy. Há chẳng nghe: Thập thất chi ấp, tất hữu trung tín (Một ấp 10 nhà ắt có nhà trung tín). Nếu đại nhân khinh chỗ quê mùa không người biết nghe đàn, thì cũng không nên có người khảy lên khúc đàn tuyệt diệu.

 

Nghe đáp xong, Bá Nha hơi choáng váng, hối hận những lời vừa thốt ra, vội bước ra mũi thuyền, dịu giọng nói:

 

– Người quân tử ở trên bờ, nếu thực biết nghe đàn, biết vừa rồi ta khảy khúc gì không?

 

– Khúc đàn đại nhân vừa tấu đó là: Đức Khổng Tử khóc Nhan Hồi, phổ vào tiếng đàn, lời rằng:

 

Khá tiếc Nhan Hồi yểu mạng vong,

Dạy người tư tưởng tóc như sương.

Đàn, bầu, ngõ hẹp vui cùng đạo,

 

Đến cuối câu ba thì dây đàn đứt, còn lại câu bốn là:

 

Lưu mãi danh hiền với kỹ cương.

 

Bá Nha nghe xong, đúng quá, mừng rỡ sai quân hầu bắc cầu lên bờ mời người quân tử xuống thuyền đàm đạo.

 

 

 

Người tiều phu ung dung xuống thuyền, chấp tay vái Bá Nha. Bá Nha vội đưa tay đáp lễ, nói:

 

– Xin quí hữu miễn lễ cho.

 

Rồi bắc ghế mời ngồi, phân ngôi chủ khách.

 

– Quí hữu biết nghe đàn, ắt biết ai chế ra đàn?

 

– Mong ơn Ngài hỏi tới, kẻ tiểu dân đâu chẳng dám nói hết cái biết của mình.

 

Khi xưa, vua Phục Hy thấy tinh hoa của năm vì sao rơi xuống cây ngô đồng, chim phượng hoàng liền đến đậu. Vua Phục Hy biết ngô đồng là gỗ quí, hấp thụ tinh hoa Trời Đất, có thể làm đồ nhã nhạc, liền sai người đốn cây ngô đồng xuống, cắt làm ba đoạn để phân Thiên, Địa, Nhơn.

Đoạn ngọn thì tiếng quá trong mà nhẹ, đoạn gốc thì tiếng quá đục mà nặng, duy đoạn giữa thì tiếng vừa trong vừa đục, có thể dùng được, liền đem ra giữa dòng sông nước chảy ngâm 72 ngày đêm, rồi lấy lên phơi khô, chọn ngày tốt, thợ khéo Lưu Tử Kỳ chế làm nhạc khí, bắt chước nhạc Cung Dao Trì, đặt tên là Dao cầm.

Dao cầm nầy dài 3 thước 6 tấc, án theo 360 độ chu Thiên , phía trước rộng 8 tấc án theo Bát tiết, sau rộng 4 tấc án theo Tứ Tượng, dầy 2 tấc án theo Lưỡng Nghi, đầu như Kim đồng, lưng như Ngọc Nữ, trên chạm Long Phụng, gắn phím vàng trục ngọc.

Đàn ấy có 12 phím tượng trưng 12 tháng, lại thêm một phím giữa tượng trưng tháng nhuận, trên mắc 5 dây, ngoài tượng Ngũ Hành, trong tượng Ngũ Âm: Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ.

 

Vua Thuấn khảy Dao cầm, ca bài Nam phong, thiên hạ đại trị.

 

Vua Văn vương bị Trụ vương giam cầm nơi Dũ Lý, con trưởng Bá Ấp Khảo thương nhớ không nguôi, nên thêm một dây nữa gọi là dây Văn (Văn huyền), đàn nghe thêm ai oán.

 

Võ vương đem quân phạt Trụ, thêm vào Dao cầm một dây phấn khích gọi là dây Võ (Võ huyền).

 

Như thế, Dao cầm lúc đầu có 5 dây, sau thêm 2 dây Văn và Võ nữa thành 7 dây, gọi là Thất huyền cầm.

 

Đàn ấy có Sáu kỵ, Bảy không, Tám tuyệt, kể ra:

 

* Sáu Kỵ là: Rét lớn, nắng lớn, gió lớn, mưa lớn, sét lớn, tuyết rơi nhiều.

 

* Bảy Không là: Nghe tiếng bi ai và đám tang thì không đàn, lòng nhiễu loạn thì không đàn, việc bận rộn thì không đàn, thân thể không sạch thì không đàn, y quan không tề chỉnh thì không đàn, không đốt lò hương thì không đàn, không gặp tri âm thì không đàn.

 

* Tám Tuyệt là: Thanh cao, kỳ diệu, u uất, nhàn nhã, bi đát, hùng tráng, xa vời, dằng dặc.

Đàn ấy đạt đến tận thiện tận mỹ, hổ nghe không kêu, vượn nghe không hú, một thứ nhã nhạc tuyệt vời vậy.

 

 

 

Bá Nha nghe xong , kính phục bội phần, hỏi thêm:

 

– Quí hữu quả thấu triệt nhạc lý. Khi xưa, Đức Khổng Tử đang khảy đàn, Nhan Hồi từ ngoài bước vào, thoảng nghe tiếng đàn u trầm, nghi là có ý tham sát, lấy làm lạ, liền hỏi Đức Khổng Tử. Ngài đáp: Ta đang khảy đàn, bỗng thấy mèo bắt được chuột, liền khởi lên ý niệm tham sát mà hiện ra tơ đồng.

 

– Nhan Hồi đã nghe tiếng đàn mà biết lòng người khảy đàn. Nay Hạ quan khảy đàn, lòng tư lự điều gì, quí hữu có thể đoán biết chăng?

 

– Đại nhân thử dạo một khúc xem.

 

Bá Nha nối lại dây đàn, tập trung tinh thần đến chốn non cao, khảy lên một khúc. Tiều phu khen rằng:

 

– Đẹp thay vòi vọi kìa, chí tại non cao.

 

Bá Nha ngưng thần, ý tại lưu thủy, khảy lên một khúc nữa. Tiều phu lại khen rằng:

 

– Đẹp thay, mông mênh kìa, chí tại lưu thủy.

 

Bá Nha thấy tiều phu đã thấy rõ lòng mình qua tiếng đàn, lấy làm kính phục, liền gác đàn, sai bày tiệc rượu, đối ẩm luận đàm. Hai người hỏi nhau tên họ, nguyên quán, nghề nghiệp.

 

Bá Nha lại sanh lòng cảm mến Tử Kỳ về sự hiếu với phụ mẫu, nên xin kết nghĩa anh em với Tử Kỳ, để không phụ cái nghĩa TRI ÂM mà suốt đời Bá Nha chưa từng gặp.

 

Hai người đến trước bàn hương án lạy Trời Đất, rồi lạy nhau 8 lạy kết làm anh em. Tử Kỳ nhỏ hơn Bá Nha 10 tuổi nên làm em.

 

Hai anh em đối ẩm cùng nhau tâm sự mãi cho đến sáng mà không hay. Tử Kỳ vội đứng lên từ biệt.

Bá Nha bùi ngùi xúc động, hẹn ước Tử Kỳ, đúng ngày Trung Thu năm sau, hai anh em sẽ hội ngộ nhau tại ghềnh đá nầy. Bá Nha lấy ra hai đỉnh vàng, hai tay nâng lên nói:

 

– Đây là chút lễ, kính dâng bá phụ và bá mẫu. Tấm tình chí thành, em đừng từ chối.

 

Hai người từ biệt, lòng đầy lưu luyến.

 

Chẳng bao lâu, thuyền về tới bến. Bá Nha vào kinh đô tâu trình Tấn Vương các việc, được Tấn vương khen tặng.

 

***

 

Thời gian lặng lẽ trôi qua. . . Nhớ ngày ước hẹn với Tử Kỳ, Tử Nha tâu xin vua Tấn cho nghỉ phép về thăm quê nhà.

 

Bá Nha thu xếp hành trang đến núi Mã Yên kịp ngày Trung Thu ước hẹn. Kìa là núi Mã Yên mờ mờ sương lạnh, tịch mịch, không một bóng người.

 

Bá Nha nghĩ thầm, năm trước nhờ tiếng đàn mà gặp được tri âm, đêm nay ta phải đàn một khúc để gọi Tử Kỳ. Rồi sai đốt hương trầm, đem Dao cầm ra so dây. Bá Nha đặt hết lòng nhớ nhung của mình vào tiếng đàn réo rắt, bỗng trong tiếng đàn lại có hơi ai oán nổi lên. Bá Nha dừng tay suy nghĩ: Cung Thương có hơi ai oán thảm thê, ắt Tử Kỳ gặp nạn lớn. Sáng mai ta phải lên bờ dọ hỏi tin tức về Tử Kỳ.

 

Đêm ấy, Bá Nha hồi hộp lo âu, trằn trọc suốt đêm, chờ cho mau sáng, truyền quân hầu mang theo Dao cầm, 10 đỉnh vàng, vội vã lên bờ, tiến vào núi Mã Yên. Khi qua cửa núi, gặp ngã ba đường, chưa biết nên đi đường nào, đành ngồi chờ người trong xóm đi ra hỏi thăm. Không bao lâu, gặp một lão trượng tay chống gậy, tay xách giỏ, từ từ đi lại. Bá Nha thi lễ, hỏi:

 

– Xin lão trượng chỉ giùm đường đi Tập Hiền Thôn?

 

– Thượng quan muốn tìm nhà ai?

 

– Nhà của Chung Tử Kỳ.

 

Vừa nghe 3 tiếng Chung Tử Kỳ, lão trượng nhòa lệ, nói:

 

– Chung Tử Kỳ là con của lão. Ngày Trung thu năm ngoái, nó đi đốn củi về muộn, gặp quan Đại Phu là Du Bá Nha kết bạn tri âm. Khi chia tay, Bá Nha tặng hai đỉnh vàng, nó dùng tiền nầy mua sách học thêm, ngày đi đốn củi, tối về học sách, mãi như vậy, sức khỏe hao mòn, sanh bệnh rồi mất.

 

Bá Nha nghe vậy thì khóc nức nở, thương cảm vô cùng. Lão trượng ngạc nhiên hỏi quân hầu thì biết thượng quan đây chính là Du Bá Nha, bạn tri âm của Chung Tử Kỳ. Chung lão biết vậy lại càng bi thảm hơn nữa nói:

 

– Mong ơn thượng quan không chê con lão hàn tiện. Lúc mất, nó dặn rằng: Con lúc sống không vẹn niềm hiếu dưỡng, lúc chết không vẹn nghĩa tri giao, xin cha chôn con nơi cửa núi Mã Yên để thực hiện lời ước hẹn với quan Đại Phu Bá Nha.

 

Lão phu y lời con trối lại. Con đường mà thượng quan vừa đi qua, bên phải có một nấm mộ mới, đó là mộ của Tử Kỳ. Hôm nay là đúng 100 ngày, lão mang vàng hương ra cúng mộ.

 

– Việc đời biến đổi, may rủi không lường. Xin Lão bá đưa đến mộ Tử Kỳ, bốn lạy cho vẹn tình tri kỷ.

 

Khi đến phần mộ, Bá Nha sửa lại áo mũ, sụp lạy khóc rằng:

 

– Hiền đệ ơi, lúc sống thông minh anh tuấn tuyệt vời, nay chết, khí thiêng còn phảng phất, xin chứng giám cho ngu huynh một lạy ngàn thu vĩnh biệt.

 

Lạy xong, Bá Nha phục bên mồ, khóc nức nở. Sau đó, Bá Nha gọi mang Dao cầm tới, đặt lên phiến đá trước mộ, ngồi xếp bằng trên mặt đất một cách nghiêm trang, so dây tấu lên một khúc nhạc thiên thu, tiễn người tri âm tài hoa yểu mạng.

 

Bỗng thấy gió rừng thổi mạnh, mây đen kéo lại, u ám bầu trời, hồi lâu mới tan. Có lẽ đó là anh hồn của Tử Kỳ hiển linh chứng giám. Tấu khúc nhạc xong, Bá Nha phổ lời ai oán, thay lời ai điếu, vĩnh biệt bạn tri âm, rồi đến vái cây Dao cầm một vái, tay nâng đàn lên cao, đập mạnh vào phiến đá trước mộ Tử Kỳ, đàn vỡ tan nát, trục ngọc phím vàng rơi lả tả.

 

Chung lão không kịp ngăn, sợ hãi nói rằng:

 

– Sao đại quan hủy cây đàn quí giá nầy?

 

Bá Nha liền ngâm 4 câu thơ thay câu trả lời:

 

Dao cầm đập nát đau lòng phượng,

Đàn vắng Tử Kỳ, đàn với ai?

Gió Xuân khắp mặt bao bè bạn,

Muốn kiếm tri âm, ôi khó thay!

 

– Nguyên do là vậy. Âm nhạc là một bộ môn nghệ thuật cao siêu. Nhân đây, xin mời thượng quan đến nhà lão để lão cảm tạ tấm lòng tốt đẹp của thuợng quan đối với con lão.

 

– Cháu quá bi thương, không dám theo bá phụ về quí phủ e gợi thêm nỗi đau lòng. Nay nghĩa đệ vắn số mất rồi, cháu kính dâng lên bá phụ và bá mẫu 10 đỉnh vàng, một nửa dùng mua mấy mẫu ruộng làm Xuân Thu tế tự cho Tử Kỳ, một nửa xin để phụng dưỡng bá phụ và bá mẫu trong tuổi già. Chừng cháu trở về triều, dâng biểu lên vua xin cáo quan, cháu xin đến rước bá phụ, bá mẫu đến an hưởng tuổi già.

 

Nói xong, Bá Nha lấy vàng dâng lên, rồi khóc lạy mộ Tử Kỳ một lần nữa, mới trở về thuyền.

Chung lão cảm động không cùng, nghẹn ngào đứng lặng nhìn theo bóng Bá Nha cho đến khi khuất bóng.

 

 

 

Khi ta có một tri kỷ

Khi ta gặp gỡ đúng người, tại đúng thời điểm, ta biết đó chính là tri kỷ của cuộc đời mình. Gặp được tri kỷ, rồi cùng người đó ở cạnh nhau thật lâu, cuộc đời ta bỗng trở nên tốt đẹp và hiền hòa vô cùng.

Nhớ lại khoảng đời lúc người chưa xuất hiện, cuộc sống của ta giống như một đường thẳng bị gấp khúc ở tất cả mọi ngóc ngách. Nhiều lần buồn tênh, ta từng nghĩ mình mang số sao chổi. Tất thảy mọi chuyện xảy ra trong đời ta đều không như mong muốn, ta luôn gặp xui xẻo, đối diện với những điều khó khăn hằng ngày.

Những ngày đó, cuộc đời đã chẳng đối xử tử tế với ta, và đôi lần thì khiến ta phải chịu đựng sự tuyệt vọng và bế tắc đến tận cùng.

Để rồi khi người vô tình xuất hiện rồi ở lại bên cạnh ta thật lâu, ta thấy cuộc đời này bỗng trở nên đơn giản và dễ dàng hơn thật nhiều. Những khó khăn, mệt nhọc từng có trong đời đều biến tan đi từ lúc nào chẳng hay. Cũng kể từ đó trở đi, cuộc đời ta trở nên ung dung, thư thái, chỉ ngập ngụa trong những câu chuyện vui vẻ và hạnh phúc cùng người, suốt cả ngày, cả tháng, và cả năm.

tri-ky

Ta trở nên yêu kiều hơn với cuộc đời này, ta cũng yêu kiều và bình yên sống trọn từng khoảnh khắc hạnh phúc cạnh bên người tri kỷ của mình. Những vướng bận về câu chuyện còn dở dang trong đời, có người rồi cũng bỗng hóa thành hư không.

Người bên cạnh ta, chăm sóc và sẻ chia với ta mọi thứ trong cuộc sống. Người từng nói rằng, chỉ là lúc mà ta cần đến người, người sẽ xuất hiện và làm nơi bến bờ bình yên để ta có thể an tâm mà dựa dẫm. Bất cứ là lúc nào, bất cứ là nơi chốn xa xăm tận nơi đâu, ta chỉ cần lên tiếng, và người sẽ tìm thấy ta ngay. Người sẽ ở bên cạnh ta, một ngày dài mệt mỏi trong chốc lát nhờ vài lời ủi an thủ thỉ từ người sẽ tự khắc mà biến tan đi.

Cuộc đời khó khăn sẽ không còn dám quấy rầy ta nữa, vì ta đã có người bên cạnh rồi.

Từ khi gặp người, ta chỉ thấy cuộc đời này trở nên đẹp đẽ và kỳ diệu hơn quá đỗi. Chiếc lá thật xanh và cành hoa thật đẹp, ánh nắng chan hòa và không khí thì ngọt lịm, thơm tho. Mọi chuyện vốn thật khó khăn trên đời cũng hóa thành điều nhẹ tênh rồi biến mất. Người cho ta những lời khuyên, những triết lý sâu sắc về cuộc đời mà người nghiệm ra được, giúp ta trông thấy cuộc đời này thật vui khi chỉ có những con người tử tế sống điềm đạm hằng ngày với nhau.

Người cho ta thấy một thế giới thật xinh đẹp và bình yên, khiến ta lạc quan hơn với cuộc sống này của mình đã vốn đầy đủ và ấm no vô ngần. Mọi niềm vui, nỗi buồn ta đều chỉ muốn được san sẻ và tâm tình cùng người cả ngày. Ta chỉ muốn ngồi trong một góc căn phòng đón nắng, uống một cốc trà thơm tho, kể chuyện cho người nghe và được nghe người kể chuyện. Cuộc tình của ta và người thật giản đơn cùng với cuộc đời hóa ra rất đơn giản này. Không còn dông tố, cũng chẳng còn khổ đau khi ta có người bên cạnh đời mình nữa.

Ta thật yêu và thương người biết bao nhiêu, nói bằng bao lời đây để bộc bạch được hết tâm tư này trong lòng mình. Ta chỉ muốn được cùng người tình tự, an ổn và sống cho đến hết cuộc đời này mà thôi. Ta không quản mặc bất cứ điều khổ đau gì đang tiếp diễn trong cuộc đời này nữa. Vì ta có người rồi, có người bên cạnh mình rồi, cuộc đời ta từ đó về sau cũng đổi thay rồi, nhiệm màu và thật đẹp rực rỡ.

Sau cùng, ta vẫn muốn được nói một lời với người, rằng “Cảm ơn người vì vào ngày người đến, thế giới của ta cũng trở nên đẹp đẽ lạ kỳ”.

TĐCS